vanban.org

Bản án 118/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 29/10/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng P phạm tội "Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!!!!!!! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
QUẬN!THỐT!NỐT
!!!!!!!TP.!CẦN!THƠ!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số bản án: 118/2020/HSST
Ngày: 29/10/2020.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!QUẬN!THỐT!NỐT!-!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thúy Kiên – Nguyên là giáo viên.

2. Bà Thái Ánh Trinh – Nguyên là giáo viên.!

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2020/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đối với bị cáo:

Lê!Hồng!P!– sinh ngày: 04/12/2003;

Nơi cư trú: Khu vực Tân An, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Lê Hồng Huống – sinh năm: 1968 (chết) và bà: Nguyễn Thị G – sinh năm: 1975 (sống); Anh, em: có 01 người em tên Lê Chí Dũng – sinh năm: 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 08/02/2018 bị xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi đánh bạc trái phép (chưa được 15 tuổi); Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt từ ngày 04/8/2020 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người giám hộ cho bị cáo:! Ông Thái! Quang! Hiển! – sinh năm: 1956 (Có mặt)

Địa chỉ: khu vực Đông Bình, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng!Trúc!P1 – sinh năm: 1985 (Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúppháp lý thành phố Cần Thơ) (Có mặt)

Người bị hại: Bà Nguyễn!Thị!G – sinh năm: 1975 (Có mặt)

Địa chỉ: khu vực Tân An, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/. Ông!Nguyễn!Hữu!T1!– sinh năm: 1974 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu vực Phước Lộc, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.

2/. Ông!Lý!Minh!H!– sinh năm: 1972 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khu vực Phước Lộc, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/6/2020, Lê Hồng P lấy chìa khóa mở cóp yên chiếc xe môtô nhãn hiệu Vision biển số 65K1-287.37 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị G đang đậu trong nhà thuộc khu vực Tân An, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, để lấy cây Tuốt-nơ-vít ra sửa xe nhưng khi mở cóp yên xe ra thì P phát hiện bên trong cóp xe có 01 cái bóp màu đỏ mà bà G thường đựng tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp tiền của bà G để tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định của mình P mở cái bóp ra thì thấy bên trong có 01 túi nhung màu đỏ, tiếp tục mở túi nhung thì P phát hiện bên trong có nhiều trang sức bằng vàng như: lắc đeo tay, dây chuyền, nhẫn, đây là những loại trang sức mà P nhìn thấy bà G đeo, P đã lén lút lấy trộm 02 chiếc nhẫn vàng (01 chiếc nhẫn trơn và 01 chiếc nhẫn có mặt được gắn đá) cất giấu vào túi quần đang mặc, rồi bỏ cái bóp vào cóp yên xe đóng lại như cũ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe môtô biển số 65FA-003.27 chạy đến tiệm vàng KY ở chợ Tân Tây thuộc phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, bán 01 chiếc nhẫn vàng trơn được số tiền 4.500.000đồng, sau đó tiếp tục chạy xe đến tiệm vàng MH ở chợ Tân Đông, thuộc phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, bán thêm 01 chiếc nhẫn mặt được gắn đá còn lại, được số tiền 2.200.000đồng. Tổng số tiền P bán 02 chiếc nhẫn lấy trộm của bà G là 6.700.000đồng, sau đó tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 12/6/2020, P tiếp tục nảy sinh ý định lấy trộm vàng trong cóp yên xe của bà G nên đã theo dõi bà G để tìm cơ hội mở cóp yên xe lấy trộm vàng đem bán. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, P thấy bà G đi ra vườn làm công việc, thì P đi tìm chìa khóa xe để mở cóp yên xe lấy trộm vàng nhưng tìm không thấy chìa khóa xe nên P đi đến chiếc xe dùng tay phải cạy mép yên bên trái xe lên tạo ra một khoảng trống rồi thò tay vào bên trong cóp xe lấy cái bóp màu đỏ bên trong có đựng vàng ra khỏi cóp xe, khi lấy được cái bóp P mở ra lấy trộm (02 chiếc nhẫn vàng mặt vuông có gắn đá màu tím, 01 chiếc lắc vàng đeo tay, 01 sợi dây chuyền vàng có mặt hình ngôi sao, 01 chiếc nhẫn vàng có mặt hình nốt nhạc, 01 chiếc nhẫn vàng mặt gắn đá màu trắng) lấy trộm vàng xong, P để túi nhung vào bên trong bóp và để cái bóp vào trong cóp xe lại. Sau đó P lấy 02 nhẫn vàng mặt vuông có gắn đá màu tím đem đến tiệm vàng MH bán được số tiền là 2.400.000đồng, số vàng còn lại gồm: 01 chiếc lắc vàng đeo tay, 01 sợi dây chuyền vàng có mặt hình ngôi sao, 01 chiếc nhẫn vàng có mặt hình nốt nhạc, 01 chiếc nhẫn vàng mặt gắn đá màu trắng, P để vào bọc nilon rồi đem cất giấy ở đầu tủ gỗ trong nhà kho, để dành bán dần để tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 25/6/2020, bà G phát hiện vàng để trong cóp yên xe bị mất trộm gồm: 02 chiếc nhẫn vàng loại 18k có hoa văn vuông (không nhớ trọng lượng), 02 chiếc nhẫn vàng 18k mặt vuông có gắn đá màu tím (không nhớ trọng lượng), 01 chiếc nhẫn vàng 16k trọng lượng 03 phân 04 ly, 01 sợi dây chuyền vàng 23k trọng lượng 05 chỉ 08 ly, 01 chiếc nhẫn vàng 23k, có mặt hoa văn hình nốt nhạc trọng lượng 02 chỉ 08 ly, 01 chiếc lắc đeo tay vàng 23k trọng lượng 05 chỉ, nên đã trình báo cho Công an phường Tân Lộc, để xác minh làm rõ.

Quá trình điều tra Cơ quan Công an mời P làm việc, thì P thừa nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại số vàng còn cất giấu cho Cơ quan Công an. Tang vật thu giữ gồm:

- 01 chiếc lắc vàng đeo tay;

- 01 sợi dây chuyền vàng có mặt hình ngôi sao;

- 01 chiếc nhẫn vàng có mặt hình nốt nhạc;

- 01 chiếc nhẫn vàng có mặt gắn đá màu trắng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50/BKL-HĐĐGTS ngày 29/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, kết luận:

- 01 chiếc nhẫn vàng 16k khối lượng 03 phân 04 ly, có giá trị: 1.050.000đồng;

- 01 sợi dây chuyền vàng 23k và mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 23k có khối lượng 05 chỉ 08 ly, có giá trị: 24.500.000đồng;

- 01 chiếc nhẫn vàng 23k có mặt hoa văn bằng nốt nhạc khối lượng 02 chỉ 08 ly, có giá trị: 10.080.000đồng;

- 01 chiếc lắc đeo tay vàng 23k khối lượng 05 chỉ, có giá trị: 24.250.000đồng;

- Tổng giá trị tài sản định giá là 59.880.000đồng.

Đối với số vàng mà P lấy trộm vào ngày 08/6/2020 và ngày 12/6/2020 bán được tổng số tiền là 9.100.000đồng. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được số vàng và các giấy tờ thể hiện việc mua bán, mặt khác qua điều tra bà G khai không nhớ rõ số vàng bị mất trộm có đặc điểm và khối lượng bao nhiêu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để yêu cầu định giá tài sản đối với số vàng này.

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an quận Thốt Nốt đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Nguyễn Thị G 01 chiếc nhẫn vàng 16k khối lượng 03 phân 04 ly, 01 sợi dây chuyền vàng 23k và mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 23k có khối lượng 05 chỉ 08 ly, 01 chiếc nhẫn vàng 23k có mặt hoa văn bằng nốt nhạc khối lượng 02 chỉ 08 ly và 01 chiếc lắc đeo tay vàng 23k khối lượng 05 chỉ.

Đối với anh Lý Minh H chủ tiệm vàng MH và anh Nguyễn Hữu T chủ tiệm vàng KY, mà P khai đã đem vàng đến bán nhưng anh Hào và anh Thông trình bày không xác nhận đã mua vàng của P, đo đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bà Nguyễn Thị G không yêu cầu đối với số vàng P đã bán, đồng thời xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Hồng P.

Tại cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 29/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên xử: Bị cáo Lê Hồng P phạm tội“Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Hồng P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đề nghị công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị G 01 chiếc nhẫn vàng 16k khối lượng 03 phân 04 ly, 01 sợi dây chuyền vàng 23k và mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 23k có khối lượng 05 chỉ 08 ly, 01 chiếc nhẫn vàng 23k có mặt hoa văn bằng nốt nhạc khối lượng 02 chỉ 08 ly và 01 chiếc lắc đeo tay vàng 23k khối lượng 05 chỉ là phù hợp.

- Đối với số vàng mà bị cáo lấy trộm vào ngày 08/6/2020 và ngày 12/6/2020 bán được tổng số tiền là 9.100.000đồng. Do Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được số vàng và các giấy tờ thể hiện việc mua bán, đồng thời bà G khai không nhớ rõ số vàng bị mất trộm có đặc điểm và khối lượng bao nhiêu, không yêu cầu xem xét đối với bị cáo nên không đặt vấn đề xử lý là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị G không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo P phát biểu: Phân tích tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cha bị cáo mất sớm, hoàn cảnh khó khăn,... Bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, suy nghĩ bồng bột, nhất thời phạm tội và thống nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án thấp nhất của đề nghị là 02 năm tù cho hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải, cam kết không tái phạm, hứa sửa đổi lỗi lầm lo bù đắp lại cho bị hại, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:!

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Trong điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, v.v…

Như vậy, có cơ sở xác định vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/6/2020, bị cáo Lê Hồng P lấy chìa khóa mở cóp yên chiếc xe môtô nhãn hiệu Vision biển số 65K1-287.37 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị G đang đậu trong nhà thuộc khu vực Tân An, phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, phát hiện bên trong cóp xe có 01 cái bóp màu đỏ mà bà G thường đựng tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp tiền của bà G để tiêu xài cá nhân. Bị cáo mở cái bóp ra thì thấy bên trong có nhiều trang sức bằng vàng như: lắc đeo tay, dây chuyền, nhẫn, bị cáo P đã lén lút lấy trộm 02 chiếc nhẫn vàng (01 chiếc nhẫn trơn và 01 chiếc nhẫn có mặt được gắn đá) cất giấu vào túi quần đang mặc, rồi bỏ cái bóp vào cóp yên xe đóng lại như cũ. Theo lời khai của bị cáo, đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, P điều khiển xe môtô biển số 65FA-003.27 chạy đến tiệm vàng KY ở chợ Tân Tây thuộc phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, bán 01 chiếc nhẫn vàng trơn được số tiền 4.500.000đồng, sau đó tiếp tục chạy xe đến tiệm vàng Minh Hào ở chợ Tân Đông, thuộc phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, bán thêm 01 chiếc nhẫn mặt được gắn đá còn lại, được số tiền 2.200.000đồng. Tổng số tiền P bán 02 chiếc nhẫn lấy trộm của bà G là 6.700.000đồng, sau đó tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 12/6/2020, P tiếp tục nảy sinh ý định lấy trộm vàng trong cóp yên xe của bà G, bị cáo P đi tìm chìa khóa xe để mở cóp yên xe lấy trộm vàng nhưng tìm không thấy chìa khóa xe nên P dùng tay phải cạy mép yên bên trái xe lên tạo ra một khoảng trống rồi thò tay vào bên trong cóp xe lấy cái bóp màu đỏ bên trong có đựng vàng ra khỏi cóp xe, lấy trộm (02 chiếc nhẫn vàng mặt vuông có gắn đá màu tím, 01 chiếc lắc vàng đeo tay, 01 sợi dây chuyền vàng có mặt hình ngôi sao, 01 chiếc nhẫn vàng có mặt hình nốt nhạc, 01 chiếc nhẫn vàng mặt gắn đá màu trắng) lấy trộm vàng xong, P để cái bóp vào trong cóp xe lại. Sau đó P lấy 02 nhẫn vàng mặt vuông có gắn đá màu tím đem đến tiệm vàng Minh Hào bán được số tiền là 2.400.000đồng, số vàng còn lại gồm: 01 chiếc lắc vàng đeo tay, 01 sợi dây chuyền vàng có mặt hình ngôi sao, 01 chiếc nhẫn vàng có mặt hình nốt nhạc, 01 chiếc nhẫn vàng mặt gắn đá màu trắng, P để vào bọc nilon rồi đem cất giấy ở đầu tủ gỗ trong nhà kho, để dành bán dần để tiêu xài cá nhân. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50/BKL-HĐĐGTS ngày 29/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt, kết luận: Tổng giá trị tài sản định giá là 59.880.000đồng (Năm mươi chín triệu, tám trăm tám mươi ngàn đồng). Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa P. Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Xét bản thân bị cáo lúc phạm tội đến ngày xét xử chưa được 18 tuổi nhưng bị cáo có tính đua đòi, ham chơi, tham lam, mong muốn có tiền hưởng thụ mà không phải bỏ công sức lao động, vì vậy bị cáo nảy sinh hành vi trộm cắp tài sản của chính mẹ ruột của mình để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, mà lẽ ra bị cáo phải có trách nhiệm bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời ngăn ngừa chung trong xã hội. Song khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội bộc phát lòng tham nhất thời và khi bị phát hiện bị cáo thành khẩn nhận tội, đã giao trả lại tài sản lấy trộm cho người bị hại, hơn nữa bị hại là mẹ ruột của bị cáo xác định do cha bị cáo mất sớm nên bị cáo thiếu sự giáo dục, chăm sóc tốt nên nhận thức chưa đầy đủ tính nguy hiểm của hành vi đã gây ra, đồng thời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi được hưởng chính sách quy định đối với người chưa thành niên phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo như nhận định, đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát và của luật sư bào chữa cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Theo như nhận định và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Bị cáo Lê Hồng P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Tuyên!xử: Bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án 29/10/2020.!

Giao bị cáo Lê Hồng P cho Ủy ban nhân dân phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.!

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho người bị hại bà Nguyễn Thị G 01 (Một) chiếc nhẫn vàng 16k khối lượng 03 (Ba) phân 04 (Bốn) ly, 01 (Một) sợi dây chuyền vàng 23k và mặt dây chuyền hình ngôi sao vàng 23k có khối lượng 05 (Năm) chỉ 08 (Tám) ly, 01 (Một) chiếc nhẫn vàng 23k có mặt hoa văn bằng nốt nhạc khối lượng 02 (Hai) chỉ 08 (Tám) ly và 01 (Một) chiếc lắc đeo tay vàng 23k khối lượng 05 (Năm) chỉ. Bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội .

Bị cáo Lê Hồng P phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo rõ)

Cỡ chữ