- Tranh chấp gì? án hình sự — "173.Tội trộm cắp tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2020/HSST. Ngày: 22/6/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị An.
- Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Đỗ Quang Linh
Bà Chu Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận TX.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận TX tham gia phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận TX, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2020/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa ra xét xử số 158/2020/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
PHẠM HỒNG H, sinh năm 1986; ĐKHKTT: Tập thể xí nghiệp 104 , phường LT, quận DD, thành phố HN và nơi cư trú: Số 67, ngõ 100, NX, phường HĐ, quận TX, thành phố HN; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Xuân C và bà Phạm Thị N; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: 02 tiền sự (đã xóa); Ngày 28/5/2014 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 29/01/2016; Hiện bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Mai Quang Vũ; sinh ngày 26 tháng 6 năm 2004
Địa chỉ: Số 110 KĐ, phường HĐ, quận TX, thành phố HN. (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho anh Vũ: Bà Nguyễn Thị Mười; sinh năm 1976; Địa chỉ: Số 110 KĐ, phường HĐ, quận TX, thành phố HN. (Vắng mặt).
*Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Bùi Đình H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 7, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h ngày 06/01/2020, PHẠM HỒNG H đến chơi game tại quán Internet địa chỉ số 166-168 KĐ thuộc phường HĐ, quận TX, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H thanh toán tiền cho nhân viên thu ngân nhưng không thấy nhân viên của quán ngồi tại bàn thu ngân. Lúc đó, H quan sát thấy 01 chiếc điện thoại Iphone 6s Plus màu trắng bạc của anh Mai Quang Vũ là nhân viên quán Internet đang để ở ngăn kéo bàn thu ngân, H nảy sinh ý định trộm cắp. H lại gần và dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại trên sau đó giấu vào túi quần bên phải H đang mặc trên người và đi ra khỏi quán. Ngay sau khi lấy được chiếc điện thoại, H gọi điện cho anh Bùi Đình H (sinh năm: 1980, HKTT: số 72 ngõ 2 TP, DD, Hà Nội) là bạn xã hội chuyên mở khóa màn hình và mở icloud các dòng máy Iphone để thuê mở mã khóa điện thoại vừa trộm cắp được, mục đích để bán cho được giá hơn. Qua trao đổi, Hiệp có hỏi về nguồn gốc chiếc điện thoại trên thì H nói là điện thoại do khách đặt lại tại cửa hàng của “anh của H” để nhờ phá khóa, nên Hiệp đồng ý mở khóa máy trên với giá 600.000đồng. Khoảng 22 giờ ngày 6/01/2020, H gặp Hiệp tại cửa hàng Internet tại số 12 KĐ, TX, Hà Nội để thực hiện việc phá khóa tuy nhiên chưa thực hiện được. Sáng ngày 07/01/2020 bà Nguyễn Thị Mười (SN: 1976 trú tại: 231 Lương Thế Vinh, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) là mẹ của anh Vũ gọi điện vào chính số điện thoại của Vũ thì Hiệp nghe máy. Bà Mười xin chuộc lại chiếc điện thoại và nói là chiếc điện thoại do con bà bị rơi mất. Hiệp trao đổi lại việc có người xin chuộc lại điện thoại với H thì H đồng ý cho Hiệp tự quyết định việc cho chuộc lại điện thoại. Hiệp và bà Mười thống nhất chuộc lại điện thoại với giá 2.500.000 đồng và Hiệp hẹn bà Mười đến địa chỉ số 107 KĐ. TX, đồng thời với việc đi chuộc lại tài sản, anh Mai Quang Vũ trình báo sự việc đến cơ quan công an phường HĐ. Khi Hiệp vừa đưa cho Vũ chiếc điện thoại, chưa cầm tiền chuộc thì Cơ quan Công an phường HĐ đến và mời những người liên quan về Công an phường làm rõ sự việc.
Cơ quan Công an thu giữ gồm: Thu giữ của Mai Quang Vũ: 01 bản photo hóa đơn bán lẻ điện thoại Iphone 6s Plus, 01 USB nhãn hiệu Transcend loại 4GB bên ngoài có vỏ bọc bằng nhựa màu đen; Thu giữ của Bùi Đình H: 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu trắng bạc có số Imei: 353326070186988; 01 điện thoại Nokia màu đen số Imei 1: 357325081639130, số Imei 2: 357319047519131 bên trong có lắp sim 1 số 0972881819, sim 2 số 0839375599; Thu giữ của PHẠM HỒNG H: 01 điện thoại nhãn hiệu Philips màu đen có số Imei: 865656025410062, có số Imei: 865656025720064, bên trong có sim số 0325790225.
Tại cơ quan điều tra, PHẠM HỒNG H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 58/KLĐG ngày 18/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận TX kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 6s Plus màu trắng bạc, số Imei: 353326070186988 trị giá 4.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 99/CT- VKS ngày 15/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận TX đã truy tố bị cáo PHẠM HỒNG H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo PHẠM HỒNG H từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Trả lại anh Bùi Đình H 01 điện thoại Nokia màu đen số Imei 1: 357325081639130, số Imei 2: 357319047519131 bên trong có lắp sim 1 số 0972881819, sim 2 số 0839375599;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Philips màu đen có số Imei 1: 865656025410062, có số Imei2: 865656025720064, bên trong có sim số 0325790225 thu giữ của bị cáo
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Bị cáo đề nghị được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến luận tội của Kểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an quận TX, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận TX, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Qua xét hỏi và tranh luận tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21giờ ngày 06/01/2020, PHẠM HỒNG H đến chơi game tại quán Internet địa chỉ số 166-168 KĐ, phường HĐ, quận TX, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H thanh toán tiền cho nhân viên thu ngân nhưng không thấy nhân viên của quán ngồi tại bàn thu ngân, lợi dụng sơ hở không có người H quan sát và đã chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 6s Plus màu trắng bạc của anh Mai Quang Vũ trị giá 4.000.000đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo PHẠM HỒNG H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận TX đã truy tố.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, nhân thân bị cáo đã có 02 tiền sự và 01 tiền án (đã xóa), bị cáo không lấy đó làm bài học, lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy cần pH có hình phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản đã thu hồi trả người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại trong quá trình điều tra có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Vì vậy có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Mai Quang Vũ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì, Tòa không xét.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Philips màu đen có số Imei1: 865656025410062, có số Imei2: 865656025720064, bên trong có sim số 0325790225 thu giữ của bị cáo, bị cáo đã sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01điện thoại Nokia màu đen số Imei 1: 357325081639130, số Imei 2: 357319047519131 bên trong có lắp sim 1 số 0972881819, sim 2 số 0839375599 thu giữ của anh Hiệp không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho anh Hiệp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt §Þnh
Tuyên bố: Bị cáo PHẠM HỒNG H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo PHẠM HỒNG H 10 (mƣời) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 3, khoản 1 Điều 21, 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 khoản I mục A - Danh mục án phí, lệ phí Tòa án;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Philips màu đen có số Imei 1: 865656025410062, có số Imei 2: 865656025720064, bên trong có lắp sim số 0325790225.
Trả lại anh Bùi Đình H 01điện thoại Nokia màu đen số Imei 1: 357325081639130, số Imei 2: 357319047519131 bên trong có lắp sim 1 số 0972881819, sim 2 số 0839375599.
Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận TX, thành phố Hà Nội.(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8//2020).
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.
| Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSNDTP Hà Nội; - VKSND quận TX; - Công an quận TX; - THADS quận TX; - Bị cáo; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Bùi Thị An |