- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2019/HSST Ngày 19/9/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Đình Chế và ông Nguyễn Thế Long.
Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 124/2019/HSST, ngày 26 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M, sinh năm 1974;
Trú tại: Thôn Dương Sơn, xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Thích và bà Nguyễn Thị Tính; Vợ: Nguyễn Thị Thìn; Con: Có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 13/10/2017 bị cáo bị Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm đ khoản 2 Điều 5 Nghị định 16/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, hình thức xử phạt: Cảnh cáo.
Ngày 17/7/2019, bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 BLHS.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2019 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1966 và ông Đỗ Khoan L, sinh năm 1965.
Cùng trú tại: Thôn Đông Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đều vắng mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1957. Vắng mặt.
Trú tại: Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
2. Anh Trần Văn L, sinh năm 1980. Vắng mặt.
Trú tại: Thôn Ngọc Lôi, xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn M làm nghề thợ mộc, nhận sửa chữa các loại đồ gỗ cũ hỏng. Khoảng tháng 4/2019, bà Nguyễn Thị Ban (chồng là ông Đỗ Khoan Luận) có thuê M sơn lại cho gia đình bà 04 bộ cửa và 01 bộ bàn ghế bằng gỗ chiu liu loại 6 món, tay 9 bao gồm 01 bàn, 02 ghế, 01 đoản, 02 đôn với giá 3.500.000 đồng. M đồng ý. Thời điểm này M đang thiếu tiền tiêu nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bộ bàn ghế của gia đình bà Ban mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Ngày hôm sau, M đến nhà bà Ban và nói với bà Ban phải mang bộ bàn ghế về xưởng mới làm được vì thiếu đồ. Bà Ban tin M nên đồng ý và giao cho M bộ bàn ghế nêu trên. Do không có phương tiện di chuyển nên M nhờ bà Ban gọi giúp người vận chuyển. Bà Ban gọi điện cho anh Nguyễn Văn Tiếp dùng xe ba bánh chở bộ bàn ghế đi cho M. Lúc này, M điều khiển xe máy Honda Wave của M đi trước dẫn đường cho anh Tiếp, nhưng không dẫn về xưởng mà đến Công ty Thiên Ph có trụ sở tại thôn Tiên Trà, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh do ông Nguyễn Văn Ph làm giám đốc. Sau khi chở bộ bàn ghế đến đây thì anh Tiếp đi về còn M gọi điện cho ông Ph nói M để lại bộ bàn ghế, ông Ph xem mua được thì mua cho M. Ngày hôm sau, ông Ph gọi cho M nói đồng ý mua bộ bàn ghế với giá 7.500.000 đồng. M đồng ý và đã nhận đủ số tiền này rồi tiêu sài cá nhân hết. Sau khi mua bộ bàn ghế của M, ông Ph đã bán lại cho anh Trần Văn L với giá 9.400.000 đồng. Hai ngày sau, anh L đã bán bộ bàn ghế này cho một người khách hàng Trung Quốc với giá 10.200.000 đồng. Do lâu ngày không thấy M trả bộ bàn ghế nên ông Luận đã đến nhà M, nhưng M nói đã bán bộ bàn ghế, không có tiền chuộc lại cho ông Luận và tránh mặt ông Luận. Ngày 03/6/2019, ông Luận đã làm đơn trình báo đến cơ quan Công an. Cùng ngày, Nguyễn Văn M đã đến Công an xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng: Ông Nguyễn Văn P tự nguyện giao nộp số tiền 1.900.000 đồng; anh Trần Văn Luận tự nguyện giao nộp số tiền 800.000 đồng là tiền hưởng chênh lệch từ việc bán bộ bàn ghế mà M đã chiếm đoạt của bà Ban, ông Luận.
Tại bản Kết luận định giá số 51/KL-ĐG ngày 28/6/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong kết luận: 01 bộ bàn ghế bằng gỗ chiu liu loại 6 món, tay 9 bao gồm 01 bàn, 02 ghế, 01 đoản, 02 đôn đã qua sử dụng có giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 9.000.000đồng.
Bản Cáo trạng số 122/CT-VKSYP ngày 26/8/2019 của Viện trưởng VKSND huyện Yên Phong đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng và khai nhận: Khoảng tháng 4/2019, do hết tiền tiêu sài nên Nguyễn Văn M đã đồng ý nhận sửa chữa 01 bộ bàn ghế bằng gỗ chiu liu loại 6 món, tay 9 bao gồm 01 bàn, 02 ghế, 01 đoản, 02 đôn của nhà bà Nguyễn Thị Ban, ông Đỗ Khoan Luận, nhưng M không mang về sửa chữa như đã thỏa thuận mà lại mang đi bán cho ông Nguyễn Văn Ph với giá 9.000.000 đồng để lấy tiền tiêu sài cá nhân hết. Sau đó, ông Ph bán bộ bàn ghế cho ai M không biết. Ngày 03/6/2019, M nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân nên đã đến Công an xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, M đã bồi thường cho gia đình ông Đỗ Khoan Luận số tiền 9.000.000đồng.
Ông Đỗ Khoan L, bà Nguyễn Thị B - Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, nhưng theo lời khai tại cơ quan điều tra (CQĐT) có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng tháng 4/2019, bà Nguyễn Thị B đã thuê M sơn lại bộ bàn ghế đã cũ của gia đình. Do M nói phải mang về xưởng mới làm được nên bà Ban đã giao bộ bàn ghế cho M. Nhưng M không mang bộ bán ghế đi sửa chữa như đã thỏa thuận mà mang đi bán để lấy tiền tiêu sài dẫn đến không có khả năng chuộc lại cho gia đình bà Ban, ông L và tránh mặt ông bà. Ngày 03/6/2019, ông bà đã làm đơn trình báo đến cơ quan Công an. Hiện bị cáo đã bồi thường cho bà B, ông L số tiền 9.000.000đồng nên bà Ban, ông L không yêu cầu M phải bồi thường gì thêm về mặt dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Nguyễn Văn Ph và anh Trần Văn L - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo lời khai tại CQĐT có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng tháng 4/2019, M có đến Công ty Thiên Ph do ông Ph làm giám đốc để hỏi bán 01 bộ bàn ghế bằng gỗ chiu liu loại 6 món, tay 9 bao gồm 01 bàn, 02 ghế, 01 đoản, 02 đôn. Ông Ph không hỏi nguồn gốc bộ bàn ghế này và đồng ý mua với giá 7.500.000đồng. Ông Ph đã giao đủ số tiền này cho M. Sau đó, ông Ph đã bán bộ bàn ghế này cho anh L với giá 9.400.000 đồng. Hai ngày sau đó, anh L đã bán bộ bàn ghế này cho một người khách Trung Quốc với giá 10.200.000 đồng. Ngày 14/6/2019, anh L đã tự nguyện giao nộp số tiền 800.000 đồng. Ngày 28/6/2019, ông Ph đã tự nguyện gioa nộp số tiền 1.900.000 đồng là tiền hưởng chênh lệch từ việc bán bộ bàn ghế mà M đã chiếm đoạt của bà Ban, ông Luận.
Đại diện VKSND huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã khẳng định: Khoảng tháng 4/2019, tại thôn Đông Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn M đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 bộ bàn ghế bằng gỗ chiu liu loại 6 món, tay 9 bao gồm 01 bàn, 02 ghế, 01 đoản, 02 đôn của bà Nguyễn Thị Ban, ông Đỗ Khoan Luận có giá trị 9.000.000 đồng nên đã giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Nguyễn Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Văn M từ 07 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2019. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa thể hiện: Khoảng tháng 4/2019, tại thôn Đông Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn M đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 01 bộ bàn ghế bằng gỗ chiu liu loại 6 món, tay 9 bao gồm 01 bàn, 02 ghế, 01 đoản, 02 đôn của bà Nguyễn Thị Ban, ông Đỗ Khoan Luận có giá trị 9.000.000 đồng. Do vậy, đại diện VKSND huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 9.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo phạm vào khoản 1 Điều 174 BLHS.
Xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người quản lý để chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy vậy bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, sau khi phạm tội đã đầu thú, tại Cơ quan điều tra và trước phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại, người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 13/10/2017 bị cáo bị Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm đ khoản 2 Điều 5 Nghị định 16/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, hình thức xử phạt: Cảnh cáo; Ngày 17/7/2019, bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh khởi tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 BLHS. Vì vậy, cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất của vụ án và nhân thân của bị cáo thấy cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo có thu nhập thấp, kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số tiền 2.700.000 đồng là tiền do ông Nguyễn Văn Ph và anh Trần Văn L tự nguyện giao nộp tiền hưởng chênh lệch từ việc bán bộ bàn ghế mà M đã chiếm đoạt của bà Ban, ông Luận nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại mà M sử dụng để liên lạc với ông Nguyễn Văn Ph trao đổi việc mua bán bộ bàn ghế của bà Ban, ông Luận, là điện thoại của M, M không nhớ nhãn hiệu gì. Trước khi đến Công an xã Tam Sơn đầu thú, M để chiếc điện thoại này ở nhà. Cơ quan Công an đã tiến hành truy tìm chiếc điện thoại này nhưng không thấy, nếu thu hồi được sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ M sử dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt là xe M mua tại một cửa hàng ở Hà Nội với giá 4.500.000 đồng để sử dụng, nhưng M không nhớ biểm kiểm soát, cửa hàng M mua ở đâu. Sau khi chiếm đoạt được bộ bàn ghế của bà Ban, do thiếu tiền tiêu sài nên M đã bán chiếc xe cho một người đàn ông không quen biết với giá 3.000.000 đồng. M không biết tên, tuổi, đại chỉ của người này nên cơ quan CSĐT không có căn cứ để thu hồi chiếc xe. Khi nào thu hồi được sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 9.000.000 đồng cho bà Ban, ông Luận; bà Ban, ông Luận không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Liên quan trong vụ án này có ông Nguyễn Văn Ph, anh Trần Văn L là người đã mua bộ bàn ghế của M. Quá trình mua bán, ông Ph, anh L không biết bộ bàn ghế là do M có hành vi lừa đảo mà có nên cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 136; Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2019. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/9/2019) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.700.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh, VKSND tỉnh. - VKS, CA, THADS huyện Yên Phong. - Những người tham gia tố tụng. - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Anh Văn |