vanban.org

Bản án 118/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị C về việc "Tranh chấp về ly hôn và nuôi con".

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị C và anh Nguyễn Phước M. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đoàn Bảo Ch, sinh ngày 29/3/2016 cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Phước M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh M có quyền, nghĩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn và nuôi con giữa chị Đoàn Thị C và anh Nguyễn Phước M"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị C về việc "Tranh chấp về ly hôn và nuôi con".
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2019
V/v “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châu Thị Kim Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Văn Hạ;

2. Ông Lê Quang Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Loan, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 về “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên toà số 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị C, sinh năm 1984. Có mặt

- Bị đơn: Nguyễn Phước M, sinh năm 1980. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn 2, xã Quế H, huyện Quế S, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/4/2019, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn - chị Đoàn Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh M tự nguyện kết hôn vào ngày 08/3/2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tiên P, tỉnh Q. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 7 năm 2018 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị C thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Nguyễn Phước M.

Về con chung: Chị và anh M có một con chung tên là Nguyễn Đoàn Bảo Ch, sinh ngày 29/3/2016. Hiện nay, chị C đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ch. Khi ly hôn, chị C có nguyện vọng tiếp tục được nuôi dưỡng cháu Ch. Chị C không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Phước M, trong quá trình giải quyết vụ án anh M không hợp tác, cố tình không đến Tòa án làm việc, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, anh M không có ý kiến về nội dung vụ án và vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không có mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa là vi phạm quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và nuôi con của chị Đoàn Thị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn - anh Nguyễn Phước M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đoàn Thị C có quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Nguyễn Phước M, địa chỉ: Thôn 2, xã Quế H, huyện Quế S, tỉnh Q. Nay, chị C khởi kiện xin ly hôn với anh M và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh M tự nguyện kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Tiên P, tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2016 ngày 08 tháng 3 năm 2016. Quá trình giải quyết vụ án, chị C cho rằng vợ chồng chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống; từ tháng 7 năm 2018 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh M không có ý kiến về việc giải quyết vụ án, không tham gia các phiên hòa giải theo các Thông báo của Tòa án. Tại các phiên tòa, anh M tiếp tục vắng mặt không có lý do, chị C vẫn cương quyết xin ly hôn. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị C, anh M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị C và anh M có một con chung tên là Nguyễn Đoàn Bảo Ch, sinh ngày 29/3/2016. Khi ly hôn, chị C có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ch, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh M không có ý kiến về việc ly hôn, xin nuôi con của chị C và không hợp tác, thể hiện sự không quan tâm đến con cái. Tại phiên tòa, anh M vắng mặt, chị C tiếp tục có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ch. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị C, giao cháu Nguyễn Đoàn Bảo Ch cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, chị C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh M được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở phù hợp với Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Đoàn Thị C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị C về việc "Tranh chấp về ly hôn và nuôi con".

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đoàn Thị C và anh Nguyễn Phước M.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đoàn Bảo Ch, sinh ngày 29/3/2016 cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Phước M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Đoàn Thị C phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị C đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006972 ngày 02/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ