vanban.org

Bản án 118/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C.

Về quan hệ con chung: giao chị Dương Thanh X trực tiếp nuôi con chung tên Đặng K, sinh ngày 10/10/2012. Anh Đặng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đặng Văn C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về quan hệ tài sản chung: không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà X - ông C"
  • Tòa quyết gì? Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 08/11/2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Lê Văn Tám.

+ Ông Huỳnh Ngọc Trứ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang: Bà Phạm Trà My, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2019/TLST-ST ngày 10 tháng 9 năm 2019 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Dương Thanh X, sinh năm 1994 (có mặt);

Địa chỉ: khu phố B, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Đặng Văn C, sinh năm 1984 (có mặt);

Địa chỉ: khu phố O, phường M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 8 năm 2019 và quá trình tố tụng, nguyên đơn Dương Thanh X trình bày:

Chị và anh Đặng Xuân C kết hôn với nhau năm 2011, không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Đặng Văn C có hành vi đe dọa tính mạng chị. Hai bên đã ly thân nhau từ tháng 6/2019. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Văn C.

Về con chung: có 01 con chung tên Đặng K, sinh ngày 10/10/2012. Chị Dương Thanh X yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, anh Đặng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: không có.

* Tại bản khai ngày 23 tháng 10 năm 2019 và quá trình tố tụng, bị đơn Đặng Văn C trình bày:

Anh và chị Dương Thanh X chung sống với nhau năm 2011, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, anh có lời lẽ đe đọa tính mạng chị Dương Thanh X. Nay anh đồng ý ly hôn với chị Dương Thanh X.

Về con chung: có 01 con chung tên Đặng K, sinh ngày 10/10/2012. Anh đồng ý giao chị Dương Thanh X trực tiếp nuôi con chung, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: không có.

* Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Dương Thanh X cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ sau: Bản tự khai ngày 14/8/2019; bản sao Giấy khai sinh con chung; bản sao Giấy chứng minh nhân dân của Dương Thanh X; bản sao Sổ HKTT của Dương Thanh X; Bản khai của con chung; Đơn xin xác nhận ngày 03/10/2019. Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ: Biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Bị đơn Đặng Văn C cung cấp tài liệu, chứng cứ: Bản khai ngày 23/10/2019.

* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình xét xử vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm. Về giải quyết vụ án, căn cứ các điều 14, 15, 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thanh X, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C, giao con chung cho chị Dương Thanh X trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đặng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản và nợ chung của vợ chồng không có, chị Dương Thanh X phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C tự nguyện kết hôn với nhau năm 2011, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Đặng Văn C có hành vi bạo hành đe dọa tính mạng chị Dương Thanh X . Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên hai bên đã tách ra sống riêng và ly thân từ thời điểm đó đến nay.

Xét thấy, quan hệ sống chung như vợ chồng giữa chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C xác lập từ năm 2011, mặc dù đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10 nhưng chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do vậy quan hệ sống chung của hai bên không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. Căn cứ Điều 14, Điều 53, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C là vợ chồng.

. Về quan hệ con chung: chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C có 01 con chung tên Đặng K, sinh ngày 10/10/2012. Xét thấy, quá trình tố tụng, hai bên thống nhất giao chị Dương Thanh X nuôi dưỡng, anh Đặng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về quan hệ tài sản chung: không có.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, chị Dương Thanh X phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Dương Thanh X và anh Đặng Văn C.

2. Về quan hệ con chung: giao chị Dương Thanh X trực tiếp nuôi con chung tên Đặng K, sinh ngày 10/10/2012. Anh Đặng Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đặng Văn C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản chung: không có.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng: chị Dương Thanh X phải chịu toàn bộ. Chuyển 300.000đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm mà chị X đã nộp (biên lai thu số 0000150 ngày 10/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) thành án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: chị Dương Thanh X, anh Đặng Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ