vanban.org

Bản án 118/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Kim A và ông Lương Văn Kh.

Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Lương Quốc K, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2009 và Lương Nhựt K, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 cho ông Lương Văn Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Bà A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về án phí: Bà Trịnh Thị A… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Trịnh Kim A với ông Lương Văn Kh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Kim A và ông Lương Văn Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-10-2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Lộc.

Ông Mạc Hoàng Nhủ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 279/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Kim A, sinh năm 1989 (có mặt).

Cư trú tại: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lương Văn Kh, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Cư trú tại: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 8 năm 2019 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trịnh Kim A trình bày: Bà và ông Lương Văn Kh tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn kéo dài do không hòa hợp được, vợ chồng thường xuyên cự cãi và vợ chồng không còn chung sống từ tháng 4 năm 2018 đến nay. Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lương Văn Kh. Trong quá trình chung sống bà và ông Kh có hai người con chung tên Lương Quốc K, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2009 và Lương Nhựt K, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012, con chung do ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu giao con chung cho ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Đối với ông Lương Văn Kh, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông Kh vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Trịnh Kim A yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Lương Văn Kh, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lương Văn Kh là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lương Văn Kh.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Kim A và ông Lương Văn Kh tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa bà A và ông Kh không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Kim A và ông Lương Văn Kh.

Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống Trịnh Kim A và ông Lương Văn Kh có hai người con chung tên Lương Quốc K, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2009 và Lương Nhựt K, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012, con chung do ông Lương Văn Kương đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà A yêu cầu giao con chung cho ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thu lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Lương Văn Kh nhưng ông Lương Văn Kh không có ý kiến gì về việc bà A yêu cầu giao hai người con chung cho ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau đến nay con chung do ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng, bà A yêu cầu giao hai người con chung cho ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng và ông Kh không có ý kiến đối với yêu cầu của bà A. Do đó, Hội đồng xét giao hai người con chung tên Lương Quốc K, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2009 và Lương Nhựt K, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 cho ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Bà A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà A, ông Kh không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà A phải chịu 300.000đ, bà A đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Kim A và ông Lương Văn Kh.

- Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Lương Quốc K, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2009 và Lương Nhựt K, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2012 cho ông Lương Văn Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Bà A có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Trịnh Thị A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019355 ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm , bà Trịnh Kim A có quyền khá ng cá o bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Lương Văn Kh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ