vanban.org

Bản án 118/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh D về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc ông Nguyễn Thanh D và bà Phan Thị Ngọc T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tính đến ngày 15/11/2019 là 99.916.381 đồng (trong đó: Tiền gốc là 43.408.469 đồng và tiền lãi là 56.507.912 đồng). Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/11/2019 được tính theo mức lãi suất thỏ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V-Nguyễn Thanh Duy"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh D về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2019/DS-ST
Ngày 15-11-2019
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Ngọc Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Phượng;

2. Ông Nguyễn Văn Du.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 346/2019/TLST-DS ngày 11/9/2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2019/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2019/QĐST-DS ngày 08/11/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V.

Địa chỉ trụ sở: phường L, quận Đ, Thành phố H; địa chỉ liên lạc: đường P, Phường M, quận N, Thành phố M.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Nguyễn Đại A. Có mặt.

- Ông Phan Thanh H. Có mặt.

Cùng địa chỉ: đường P, Phường M, quận N, Thành phố M.

(văn bản ủy quyền ngày 14/11/2019).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1974

Địa chỉ: Tổ M, Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ.

Địa chỉ trụ sở: phường Đ, Quận V, Thành phố M.

Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Diệp Đại K, là người đại diện theo pháp luật (Tổng giám đốc). Vắng mặt

3.2. Bà Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ M, Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện ngày 01/8/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Đại A và ông Nguyễn Thanh H trình bày:

Ngân hàng TMCP V (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Thanh D đã ký hợp đồng tín dụng theo Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn số 20160829-101066-4147 ngày 23/8/2016. Số tiền vay là 52.500.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 3,25%/tháng (tương đương 39%/năm).

Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 52.500.000 đồng cho ông D vào ngày 31/8/2016. Ông Nguyễn Thanh D đã thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nhiều lần, với tổng số tiền 28.572.767 đồng, trong đó tiền gốc là: 9.091.531 đồng, tiền lãi là 19.481.236 đồng.

Từ sau ngày 30/7/2017 cho đến nay, ông D không thanh toán dư nợ còn lại cho Ngân hàng. Do đó, ông D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Phía Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho ông D thanh toán nhưng ông D cố tình tránh né không thanh toán cho Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương yêu cầu ông Nguyễn Thanh D cùng với vợ ông D là bà Phan Thị Ngọc T có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 15/11/2019 là 99.916.381 đồng, trong đó gốc 43.408.469 đồng, lãi 56.507.912 đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Ngọc T trình bày:

Vào ngày 30/8/2016, bà và chồng của bà là ông Phan Thanh D được Ngân hàng TMCP V cấp tín dụng căn cứ vào Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn đối với ông Nguyễn Thanh D, theo đó VPBank cho ông D, vay số tiền 52.500.000 đồng với lãi suất 39%/năm, để tiêu dùng, hình thức vay tín chấp, không thế chấp tài sản. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông Nguyễn Thanh D có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 36 tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông D và bà đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 28.572.767 đồng, trong đó tiền gốc: 9.091.531 đồng, tiền lãi 19.481.236 đồng.

Từ ngày 25/10/2017 đến nay, ông D và bà chưa thanh toán bất cứ khoản nào cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh D cùng với bà có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng số tiền gốc và lãi còn lại 98.152.912 đồng, trong đó gốc 43.408.469 đồng, lãi 54.744.443 đồng, thì bà không đồng ý. Lý do bà không đồng ý, vì hiện nay không có mặt ông D ở Tòa. Bà có đề nghị Tòa án triệu tập lần sau ông D sẽ có mặt tại Tòa án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ trình bày: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ trả nợ vay của ông Nguyễn Thanh D theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng giữa ông D và Ngân hàng. Nguyên đơn khởi kiện là do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Bảo hiểm Đ không liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Ông Nguyễn Thanh D có tham gia bảo hiểm tại Bảo hiểm Đ theo Thông tin bảo hiểm Dư nợ tín dụng cá nhân số 20160829-101066-4147, thời hạn bảo hiểm kể từ ngày 30/8/2016 đến ngày 30/8/2018. Phí bảo hiểm trong trường hợp này là 2.500.000 đồng và đã được Ngân hàng thay mặt khách hàng thanh toán cho Bảo hiểm Viễn Đ vào ngày 27/9/2016.

Theo thỏa thuận cũng như Quy tắc bảo hiểm, trong thời hạn bảo hiểm, Bảo hiểm Đ sẽ chi trả cho người thụ hưởng nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra không thuộc điểm loại trừ và thuộc một trong các trường hợp sau đây: Người được bảo hiểm tử vong (ngày cấp giấy chứng tử); Người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn (ngày cấp chứng nhận thương tật toàn bộ vĩnh viễn); Người được bảo hiểm bị mất tích (ngày Người được bảo hiểm bị tuyên bố mất tích trong quyết định của Tòa án).

Đến thời điểm hiện nay, Bảo hiểm Đ chưa nhận được bất kỳ thông báo nào từ Người được bảo hiểm và hoặc Người thụ hưởng về việc đã phát sinh sự kiện bảo hiểm thuộc một trong các trường hợp trên. Vì vậy, không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của Bảo hiểm Đ theo Hợp đồng bảo hiểm cũng như Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Bảo hiểm Đ không có quyền lợi và/hoặc nghĩa vụ liên quan tới tranh chấp về Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn.

- Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Thanh D nhưng ông D không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Thanh D, bà Phan Thị Ngọc T có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 15/11/2019 là 99.916.381 đồng, trong đó gốc 43.408.469 đồng, lãi 56.507.912 đồng và khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kết, kể từ ngày 16/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

- Bị đơn ông Nguyễn Thanh D vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo các Điều 70, 71, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh D thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng (Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn số 20160829-101066-4147 ngày 23/8/2016). Bị đơn có nơi cư trú tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là loại việc về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Thanh D đã được tống đạt đúng quy định pháp luật nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ, bà Phan Thị Ngọc T vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 23/8/2016, ông Nguyễn Thanh D xác lập hợp đồng tín dụng theo Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn số 20160829-101066-4147 với Ngân hàng để vay số tiền 52.500.000 đồng. Ông D đã nhận số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 31/8/2016 và đóng phí bảo hiểm số tiền 2.500.000 đồng vào ngày 27/9/2016. Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn số trên giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Thanh D thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Ngân hàng đã giải ngân số tiền 52.500.000 đồng cho ông D. Ông D đã thanh toán cho Ngân hàng 28.572.767 đồng, trong đó tiền gốc: 9.091.531 đồng, tiền lãi là 19.481.236 đồng. Do ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông D thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng với số tiền tính đến ngày 15/11/2019 là 99.916.381 đồng, trong đó tiền gốc là 43.408.469 đồng, tiền lãi là 56.507.912 đồng và khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kết, kể từ ngày 16/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có cơ sở chấp nhận.

Xét bà Phan Thị Ngọc T là vợ của ông Nguyễn Thanh D. Bà T trong quá trình tố tụng đã thừa nhận có biết ông D vay của Ngân hàng và có cùng sử dụng số tiền vay trên để chi tiêu chung cho gia đình. Do vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ liên đới với ông D thanh toán cho Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận (theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Xét quan điểm của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Thanh D, bà Phan Thị Ngọc T phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Ngân hàng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh D về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

2. Buộc ông Nguyễn Thanh D và bà Phan Thị Ngọc T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tính đến ngày 15/11/2019 là 99.916.381 đồng (trong đó: Tiền gốc là 43.408.469 đồng và tiền lãi là 56.507.912 đồng).

Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/11/2019 được tính theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Nguyễn Thanh D và Ngân hàng TMCP V cho đến khi ông Nguyễn Thanh D và bà Phạn Thị Ngọc T thi hành án xong.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Thanh D và bà Phan Thị Ngọc T có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền 4.995.800 đồng (bốn triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm đồng).

- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 2.286.000 đồng (hai triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0034487 ngày 04/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ