vanban.org

Bản án 118/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 22/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn D 30 (ba mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KINH MÔN
TỈNH HẢI DƯƠNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2018/HS-ST
Ngày: 22/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Chu Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Quốc Huy

Bà Phạm Thị Chuộng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2018; Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa tại trụ sở để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN D, sinh năm 1993; Tên gọi khác: Nguyễn Quốc T

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12.

Bố: Nguyễn Văn G sinh năm 1968; Mẹ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1966

Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án: Bị cáo có 04 tiền án

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2011/HSST ngày 22/2/2011, Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã xử phạt Nguyễn Văn D 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/9/2012.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2013/HSST ngày 20/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã xử phạt Ng Văn D 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2015.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2015/HSST ngày 14/7/2015, TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đã xử phạt Nguyễn Văn D 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2016.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 53/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đã xử phạt Nguyễn Văn D 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2018.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2013 bị Công an huyện Ninh Giang, Hải Dương xử lý vi phạm hành chính theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 88 ngày 11/4/2013 về hành vi trộm cắp tài sản. Bị can thi hành xong ngày 15/4/2013.

Bị bắt tạm giam từ ngày 28/8/2018 tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1/. Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1963; Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Thôn H, xã A, huyện K, tỉnh Hải Dương.

2/. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990; chị Hoàng Thị N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương.

(Bị hại đều có đơn đề nghị xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 22/8/2018, Nguyễn Văn D đến nhà Lê Văn H ở Thôn L, xã K huyện T, tỉnh Hải Dương chơi. Đến khoảng 01 giờ ngày 23/8/2018, D và H rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Sau đó, D điều khiển xe mô tô biển số 16M2-6205, xe D mượn của anh Nguyễn Văn Th; còn H điều khiển xe mô tô hiệu Robot, biển số 99H7-6343 cùng D đi đến huyện Kinh Môn. Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến Thôn H, xã A, huyện K, tỉnh Hải Dương thì D và H phát hiện tại trước cửa hàng thu mua hành tỏi của vợ chồng anh Nguyễn Đình Đ và chị Nguyễn Thị S có để 01 xe thùng chở hàng làm bằng túyp sắt bưng tôn. Lúc này gia đình anh Đ đã tắt điện đi ngủ, D và H thống nhất vào nhà anh Đ trộm cắp tài sản. D đứng ngoài cảnh giới, còn H vào lấy thùng xe ra buộc vào sau xe mô tô của H. Sau đó, D đi bộ vào phòng khách nhà anh Đ thấy 01 điện thoại di động Masstel –Juno 5 Plus của vợ chồng ông Đ đang sạc pin ở trên bàn uống nước, D liền lấy đút vào túi quần đang mặc. D tiếp tục phát hiện thấy ở trước cửa quán có 01 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg, D bê chiếc cân lên. Lúc này anh Đ tỉnh dậy phát hiện liền hô hoán, D bê chiếc cân bỏ chạy ra chỗ dựng xe mô tô của D thì thấy anh Đ đuổi theo phía sau nên D vứt chiếc cân ở rìa đường rồi điều khiển xe mô tô chạy theo xe của H.

Sau đó, D và H tiếp tục rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến nhà vợ chồng anh Nguyễn Văn M và chị Hoàng Thị N ở Tây Sơn, Hiệp An, Kinh Môn. H và D thấy nhà không có cổng nên đi vào trong sân nhà thấy tại góc sân có 01 chiếc máy giặt hiệu SANYO loại 09kg và 01 quạt cây hiệu Viphaco màu đen. H và D khiêng chiếc máy giặt để lên thùng chở hàng phía sau xe mô tô của H rồi H điều khiển xe mô tô kéo đi. Còn D quay lại vác chiếc quạt cây lên vai rồi điều khiển xe mô tô đi theo H. Khi gặp H, D để chiếc quạt cây lên thùng xe của H rồi quay về chỗ ở tại xã Hiệp An. Trên đường đi, D quay xe lại đi theo H. Khi đi đến Km74+200 Quốc lộ 5 thuộc thị trấn Phú Thái, Kim Thành, Hải Dương; thấy H bị tai nạn giao thông chết nên D đi về chỗ ở. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, khi D đi đến xã Long Xuyên, Kinh Môn thì gặp lực lượng công an đang tuần tra, mời D về trụ sở làm việc. Tại đây, D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên và giao nộp 1 máy điện thoại di động hiệu Masstel Juno Q5 Plus; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Masstel, loại A112 màu xanh (điện thoại của D).

Ngày 23/8/2018, Công an huyện Kim Thành đã thu giữ: 01 chiếc xe mô tô hiệu Robot, biển số 99H7-6343; 01 thùng xe chở hàng làm bằng túyp sắt bưng tôn có kích thước (1.62cm x 0.98cm x 0.4cm); 01 chiếc máy giặt hiệu SANYO loại 09kg và 01 quạt cây hiệu Viphaco màu đen. Ngày 07/9/2018 đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kinh Môn: 01 thùng xe chở hàng làm bằng túyp sắt bưng tôn có kích thước; 01 chiếc máy giặt hiệu SANYO loại 09kg và 01 quạt cây hiệu Viphaco màu đen.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 63 ngày 28/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kinh Môn, kết luận: 01 chiếc cân đồng hồ, loại cân 100kg nhãn hiệu Nhơn Hòa giá trị còn lại là: 712.500 đồng; 01 máy điện thoại di động hiệu Masstel Juno Q5 Plus giá trị còn lại là: 1.440.000 đồng; 01 thùng xe chở hàng khung xe bằng túyp sắt bưng tôn có KT (1.62cm x 0.98cm x 0.4cm) giá trị còn lại là: 350.000 đồng; 01 máy giặt nhãn hiệu SANYO loại 09 kg, giá trị còn lại là: 5.640.000 đồng; 01 quạt cây nhãn hiệu VIPHACO màu đen, giá trị còn lại là: 256.000 đồng. Tổng cộng là 8.398.500 đồng.

Ngày 09/9/2018 và ngày 10/9/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Kinh Môn đã trả lại anh Đ, chị S và anh M những tài sản thu giữ nêu trên. Anh Đ, chị S và anh M không có yêu cầu bồi thường về dân sự.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Penman, biển số 16M2-6205, D khai mượn của anh Lương Văn Th, sinh năm 1993 ở Đại Đồng, Kiến Thụy, Hải Phòng. Tra cứu nguồn gốc chiếc xe trên là của anh Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1970 ở Đông Dương, Kiến Thụy, Hải Phòng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kinh Môn xác minh với chính quyền địa phương và gia đình cung cấp anh Th và anh Ng hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì gia đình và địa phương không nắm được. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Kinh Môn tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Robot, biển số 99H7-6343, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành đang quản lý và giải quyết do liên quan đến vụ tai nạn giao thông xảy ra tại thị trấn Phú Thái, Kim Thành, Hải Dương vào ngày 23/8/2018.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội.

Trong vụ án này, Lê Văn H có hành vi cùng D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của vợ chồng anh Nguyễn Đình Đ và vợ chồng anh Nguyễn Văn M. Trên đường đi trên Quốc lộ 5 thuộc thị trấn Phú Thái - Kim Thành- Hải Dương, H đã bị tai nạn giao thông chết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Kinh Môn không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Văn H.

Tại bản Cáo trạng số 118/VKS-HS ngày 05/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như theo Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Những người bị hại trong vụ án đều có đơn đề nghị xử vắng mặt, xác định đã được Cơ quan điều tra trả lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện VKSND huyện Kinh Môn giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xem xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn D từ 30 đến 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, 28/8/2018.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho những người bị hại, người bị hại đều không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn D 01 chiếc điện thoại di động hiệu Masstel, loại A112 màu xanh nhưng cho bảo thủ để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Kinh Môn; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại tại quá trình điều tra. Phù hợp khách quan với tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như vật chứng đã thu giữ cùng Kết luận của Hội đồng định giá tài sản.

Đã có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/8/2018, Nguyễn Văn D và Lê Văn H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của vợ chồng anh Nguyễn Đình Đ và chị Nguyễn Thị S ở Thôn H, xã A, huyện K, tỉnh Hải Dương: 01 chiếc cân đồng hồ, loại cân 100kg nhãn hiệu Nhơn Hòa có giá 712.500 đồng; 01 máy điện thoại di động hiệu Masstel Juno Q5 Plus có giá trị là 1.440.000 đồng; 01 thùng xe chở hàng có giá trị là 350.000 đồng. Trị giá tài sản chiếm đoạt là: 2.502.000đồng.

Khoảng 02 giờ 20 phút cùng ngày, Lê Văn H cùng Nguyễn Văn D tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của vợ chồng anh Nguyễn Văn M và chị Hoàng Thị N ở Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương: 01 máy giặt nhãn hiệu SANYO loại 9kg có giá trị là 5.640.000 đồng; 01 chiếc quạt cây nhãn hiệu VIPHACO có giá trị là 256.000 đồng. Trị giá tài sản chiếm đoạt là: 5.896.000đồng.

Bị cáo có 04 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kinh Môn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đánh giá vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Đây là vụ án có yếu tố đồng phạm, trong vụ án này bị cáo D và H đều cố ý cùng thực hiện tội phạm và đều là kẻ trực tiếp thực hiện tội phạm. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì H bị tai nạn giao thông chết, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với H là đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị pháp luật trừng trị, giáo dục nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật nên cần xét xử nghiêm minh, áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo; thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo thực hiện 02 hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản, mỗi hành vi phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn; ngay sau khi bị Công an xã Long Xuyên, Kinh Môn kiểm tra và mời về trụ sở để làm việc thì bị cáo đã tự nguyện khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện (chưa bị phát hiện) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; “Người phạm tội tự thú”. Quá trình điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử, những người bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự:

- Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho những người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Biện pháp tư pháp:

- Quá trình điều tra, bị cáo giao nộp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Masstel là tài sản của bị cáo. Do không có căn cứ chứng minh chiếc điện thoại này liên quan đến hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên trả lại chiếc điện thoại này cho bị cáo; nhưng cho bảo thủ chiếc điện thoại này tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kinh Môn để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm mà bị cáo phải chịu.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào:

+ Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

+ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Văn D 30 (ba mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2018.

- Biện pháp tư pháp: Trả lại cho Nguyễn Văn D 01chiếc điện thoại di động hiệu Masstel; nhưng cho bảo thủ chiếc điện thoại này tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn để đảm bảo thi hành tiền án phí hình sự sơ thẩm.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/11/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kinh Môn)

- Án phí: Buộc Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.

- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt bị cáo, vắng mặt những người bị hại. Đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; những người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ