- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án đối với bị cáo Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:118/2018/HS-PT Ngày 23-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cảnh
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Đức Kỳ
Ông Trần Minh Long
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 23/7/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2018/TLPT-HS ngày 13/6/2018 đối với bị cáo Võ Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 12/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Văn Q (Rin), sinh ngày 04/9/1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Tổ 09 khu vực 3 phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Võ Văn R (c) và bà Thân Thị T (s); Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/12/2017. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ ngày 07/12/2017, tại phòng 202 khách sạn Gold Star – số 259 đường P, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng, Công an quận Kbắt quả tang Võ Văn Q có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong người Q:
- 01 gói nylong kích thước 5x10cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại Methamphetamine, tổng trọng lượng 8,632g.
- 01 gói nylong bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu cam, có in hình thoi và 01 viên nén hình tròn màu xanh có in chữ “W” là ma túy loại MDMA. Tổng trọng lượng 2,064 gam.
* Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 07/12/2017, Võ Văn Q bắt xe từ thành phố Huế đi vào thành phố Đà Nẵng, khi đang ngồi uống nước tại đường T, thành phố Đà Nẵng thì Q gặp một người thanh niên làm nghề xe ôm tên C và hỏi C nhờ mua ma túy. Sau đó, Q đi cùng C đến thuê phòng 202, khách sạn Gold Star; Q đưa cho C 3.000.000đ nhờ mua ma túy, khoảng một lúc sau, C đi về và đưa cho Q 01 gói ma túy. Khi đang ở trong phòng thì Q có nhặt được 01 gói nylong chứa 06 viên thuốc lắc nên cất giấu trong người cùng với gói ma túy đã mua thì bị Công an quận K phát hiện, bắt quả tang. Q khai nhận cất giấu số ma túy trên là để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác nếu có ai hỏi mua. Qua thử nước tiểu, Võ Văn Q dương tính với ma túy tổng hợp.
Tại Bản án sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 12/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Võ Văn Q 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 07/12/2017.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 17/5/2018, bị cáo Võ Văn Q có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin xét xử theo trình tự phúc thẩm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Văn Q theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đàm bảo hợp lệ. Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy bị cáo có hành vi cất giữ ma túy gồm 8,632 gam Methamphetamine và 2,064 gam MDMA để sử dụng và đế bán lại cho người khác. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 12/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là có cơ sở, đúng pháp luật. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Võ Văn Q vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Võ Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định: Lúc 10 giờ ngày 07/12/2017, tại phòng khách sạn Gold Star, số 259 đường P, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng, Công an quận K bắt quả tang Võ Văn Q có hành vi cất giữ 8,632 gam ma túy loại Methamphetamine và 2, 064 gam ma túy loại MDMA để sử dụng và bán lại cho con nghiện kiếm lời. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HS-ST ngày 12/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo Võ Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng tội.
. Xét kháng cáo của bị cáo Võ Văn Q thì thấy: Mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của cá nhân và thu lợi bất chính, bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bất chấp pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, đồng thời góp phần gây nên các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được theo quy định pháp luật, xử phạt bị cáo mức án 04 năm 06 tháng tù là thỏa đáng, không nặng. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo bị cáo Võ Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Võ Văn Q 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 07/12/2017.
2. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Võ Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
ơ
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng; - CQ THAHS – CA quận Thanh Khê; - VKSND quận Thanh Khê; - CQCSĐT Công an quận Thanh Khê; - Toà án nhân dân quận Thanh Khê; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Trại giam Hòa Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cảnh |