- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Nh và đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Phạm Văn Nh 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội "Gây rối trật tự c ng cộng". Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng t nh từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/11/2018.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 245 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 118/2018/HS-PT Ngày 23-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Ông Lại Anh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 171/2018/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Phạm Văn N, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2018/HS-ST ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo.
Họ và tên: Phạm Văn N, sinh năm 1988 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn TL, xã H T, huyện BG, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn h a: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Đặng Thị D, c vợ và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo tại ngoại. C mặt.
Ngoài ra còn có 05 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị. Bị cáo Vũ Huy Th, Nguyễn Thế H kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 24/6/2017, Nguyễn Đình Đ và Phạm Văn N xảy ra x xát nhưng được người dân can ngăn nên cả hai ra về. Đ nảy sinh ý định gọi thêm người đến đánh N nên đã gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn D, Trần Tiến B và gọi điện thoại nhờ T (không biết họ tên, địa chỉ) về BGi đánh N. B rủ thêm Lê Hoàng A, T rủ thêm một số người khác (không xác định được lý lịch) đi cùng, tất cả đồng ý và đi bằng hai xe taxi đến chỗ N. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đến cửa hàng cầm đồ của N ở th n S C, xã Th H, huyện B Gi, tất cả đều đeo khẩu trang che mặt, một người trong nh m T cầm một bao tải đựng hung kh từ xe vứt xuống đường. Đ lấy một thanh kiếm, D, B và H A, mỗi người lấy một chiếc gậy gỗ, các đối tượng còn lại cầm dao, tuýp sắt hàn dao bầu cùng đi vào quán của N. Lúc này, trong quán cầm đồ c các anh Đỗ Văn D, Nguyễn Hồng M, Vũ Bá Đ và Nguyễn Ngọc Đ đều là nhân viên của quán. Khi nhìn thấy nh m của Đ thì tất cả mọi người trong quán bỏ chạy về ph a sau nhà, trốn ra ngoài. Đ dùng chân đạp 3- 4 phát thì mở được cổng, dùng kiếm cậy cửa, dùng chân đạp làm vỡ k nh rồi thò tay vào mở kh a. Khi vào trong quán, Đ h “Đập phá hết đi”. B dùng gậy gỗ đập 01 phát vào bàn uống nước làm mặt bàn bằng k nh bị vỡ. D dùng gậy gỗ đập 02 phát làm vỡ gương gắn trên tủ đựng quần áo, đập 2- 3 phát vào yếm xe máy Dream và đập 01 phát vào bàn uống nước làm mặt k nh vỡ thêm. Đ cầm thiết bị phát Wifi màu trắng ném xuống nền nhà, dùng chân dận 02 phát làm hỏng hoàn toàn rồi đi ra cửa quán nhặt chiếc kiếm rạch nhiều phát vào biển quảng cáo trước cửa quán. Các đối tượng trong nh m T đập hỏng hoàn toàn 01 màn hình máy vi t nh nhãn hiệu Samsung và 02 camera.
Tại kết luận định giá tài sản số 21 ngày 28/6/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện B Gi kết luận tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 4.800.000đ gồm: Biển hiệu quảng cáo hình chữ n bị rạch làm thủng, hư hỏng phần bạt; biển hiệu hai bên bị rạch làm thủng, hư hỏng phần bạt trị giá 900.000đ. 02 cánh cửa ra vào bằng nh m k nh giống nhau bị vỡ phần k nh trị giá 400.000đ/cửa x 2 cửa = 800.000đ. 01 màn hình máy t nh nhãn hiệu Samsung 20inch, trị giá 800.000đ. 01 modem phát Wifi trị giá 400.000đ. 02 camera, trong mỗi camera đều được gắn thẻ nhớ 16Gb; trị giá 600.000đ/chiếc x 2 chiếc = 1.200.000đ. 01 bàn uống nước bằng k nh, chân bàn bằng nh m; trị giá 600.000đ. 01 tủ đựng quần áo 3 buồng bằng gỗ bị vỡ gương soi gắn trên cánh tủ; trị giá 100.000đ.
Trưa ngày 25/6/2017, Nguyễn Đình Đ c mời khoảng 20 người ăn cơm tại nhà hàng Nam Việt thuộc khu 12, phường Th B, thành phố H D, tỉnh Hải Dương. Lúc này Phạm Văn N đi ăn khai trương quán cầm đồ của anh Nguyễn Văn V ở th n B Đ, xã B X, huyện B Gi thì gặp và rủ Phạm Đức Kh, Nguyễn Đình S, Cao Văn H, Ng Văn D, Vũ Huy Th, Phạm Văn T, Phạm Văn L...và một số người khác đến nhà hàng Nam Việt để n i chuyện giải quyết mâu thuẫn với Đ, tất cả đồng ý. Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, nh m Nh đến nhà hàng Nam Việt. H, Th, D ngồi đợi ở tầng 1. N, Kh, S lên tầng 3, ngồi cùng bàn ăn với Đ, Đ1, C và hai bên xảy ra to tiếng. N ra ngoài gọi điện thoại cho Phạm Đức T, Bùi Huy H, Đỗ Văn D đến quán Nam Việt. T cùng Trần Văn H, Nguyễn Đình Nh đi xe t Poscher BKS 34A- 187.71 (xe của T1); H đi xe t Mazda 6 màu ghi xám, BKS 34A-174.44 (xe của khách gửi cầm đồ) đ n Đinh Trọng C, Lê Văn V; D rủ Vũ Bá Đ đi xe taxi đến quán Nam Việt. Cùng thời điểm này, Nguyễn Tiến H (em cùng mẹ khác cha với H) biết th ng tin H đi giải quyết mâu thuẫn hộ N, sợ H bị đánh nên đã lái xe t KIA K3 màu trắng (xe của khách mang đến cầm đồ, chưa rõ BKS) đ n Đào Như H, Lương Văn H, Đỗ Hữu M và D (không rõ họ tên, địa chỉ); H mang theo 01 tuýp sắt hàn dao bầu và 01 túi đựng đồ gồm ph ng lợn, gậy b ng chày, xẻng đa năng với mục đ ch để tự vệ. Sau khi to tiếng, các đối tượng ở tầng 3 đi xuống đứng trước cửa quán Nam Việt. Lúc này tại sân bến xe bus có D, H, S, Th cùng khoảng 10 đối tượng khác trong nh m của N (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) và có 2- 3 xe t con đỗ ở sân bến xe bus, có một số đối tượng cầm tuýp sắt gắn dao bầu (ph ng lợn), gậy, tuýp sắt. Đ và Kh đi vào trong quán n i chuyện, các đối tượng khác đứng ngoài. Nhóm N đứng ở sân bến xe bus, nh m Đ đứng ở bên trái quán Nam Việt (từ cửa đi ra). C người trong nh m của N h “Đánh chết mẹ chúng n đi”, N cởi trần, chạy đến đống cát đối diện quán Nam Việt lấy 02 chiếc xẻng, Th và H mỗi người cầm 01 ph ng lợn và một số đối tượng khác (chưa xác định được lý lịch) cầm hung kh đuổi đánh nh m Đ đến đoạn ngã 3 từ đường Th B rẽ vào đường quán Nam Việt thì dừng lại. Nh m Đ bỏ chạy ra đường Thanh Bình và đường ph a sau quán Nam Việt rồi tập hợp ở ngã 3 lối rẽ ph a sau quán Nam Việt, cách nhóm N khoảng 40m. Đ, N và một số đối tượng khác (chưa xác định được) nhặt gạch vỡ ném nhau. Hiệu lái xe Mazda 6 BKS 34A-185.56 (xe của D) chở C, H, N và 02 đối tượng khác (kh ng rõ là ai) đỗ ở ngã 3 lối rẽ vào đường ph a sau quán Nam Việt. H cầm dao ở ph a sau ghế xe t , chạy ra chỗ nh m Đ đang ném nhau với nh m của N. Phước ngồi trên xe bán tải màu xám đi đến ngã 3 thì mở cửa xuống xe, chạy đến chỗ nh m Đ; tay Ph cầm khẩu súng đồ chơi màu đen, dạng súng c n xoay, bắn 3-4 phát tạo ra tiếng nổ “đoàng” để đe dọa nhóm N. Lúc này, B, B1, H, N, C và H1 kh ng c hành động gì. Anh H lái xe đến vị tr gần chỗ 2 nh m đánh nhau, nghe tiếng động ph a sau, nghĩ là đối tượng khác ném gạch vào xe t nên mở cửa xuống xe thì bị đối tượng khác (không xác định được là ai) ném gạch vào đầu làm rách tai chảy máu và bị vết thương ở tay; anh H bị ngất và được mọi người đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương. Anh T lái xe ô tô Poscher BKS 34A-187.71 đi vào đường phía sau quán Nam Việt. Lúc này, H chạy trên vỉa hè, tay phải cầm dao giơ lên chém 1 phát vào k nh chắn gi ph a h ng xe bên lái làm vỡ kính. Anh T tiếp tục lái xe ra đường Tr Ng Đ, khi đến đoạn vòng xuyến giao cắt giữa đường P V Đ và đường TrNg Đ thì bị xe bán tải màu xám trong nh m Đ (chưa xác định được người điều khiển) đâm vào thân bên lái làm lõm 2 cửa. Thấy các đối tượng đuổi đánh nhau, Đ chạy ra ngã 3 lối rẽ đường ph a sau quán Nam Việt rồi lên xe t bán tải màu xám, Phước cầm súng đồ chơi chạy lên xe t ngồi cùng Đ đi ra đường Ph V Đ. Nhóm N đuổi nh m Đ bỏ chạy. Th, H đi đến chỗ xe t Mazda bán tải màu xanh BKS 14C-169.25 của Nam đỗ ở đường ThB, Th dùng phóng lợn đâm 01 phát làm thủng lốp trước của xe, H cầm ph ng lợn đâm 2- 3 phát vào lốp sau nhưng kh ng thủng. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, các đối tượng trong 2 nh m lên xe t rời khỏi hiện trường.
Tại kết luận định giá số 1907/KL-HĐĐG ngày 31/7/2017, Hội đồng định giá tài sản UBND tỉnh Hải Dương kết luận: Giá trị thiệt hại của cửa k nh ph a trước, cửa ph a sau bên lái của xe t nhãn hiệu Poscher màu trắng, BKS 34A-187.71 là 8.580.000đ. Giá trị thiệt hại của k nh chắn gi bên trái ghế sau xe t nhãn hiệu Poscher màu trắng, BKS 34A-187.71 là 4.235.000đ. Giá trị thiệt hại của lốp trước nhãn hiệu Grand Trek Dunlop At22 bên lái của xe t Mazda BT50 BKS 14C-169.25 là 3.234.000đ.
Tại kết luận giám định số 84/TgT ngày 28/7/2017, Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận thương t ch của anh Trần Văn H gồm: Sẹo vết thương phần mềm cánh tay trái k ch thước lớn, kh ng ảnh hưởng vận động, thẩm mỹ, tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 8%. Sẹo vết thương vành tai trái không co rúm, tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 3%.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 163/2018/HS-ST ngày 05-9-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 đối với bị cáo Phạm Văn N. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Gây rối trật tự c ng cộng”. Xử phạt Phạm Văn N 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày đi thi hành án. Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác và về vật chứng, án ph sơ thẩm, quyền kháng cáo.
Ngày 17/9/2018 bị cáo Phạm Văn N kháng cáo đề nghị được hưởng án treo.
Ngày 12/9/2018 bị cáo Vũ Huy Th kháng cáo đề nghị cho hưởng án treo. Ngày 16/9/2018 bị cáo Nguyễn Thế H kháng cáo đề nghị giảm nhẹ mức phạt. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm cả hai bị cáo đã rút kháng cáo và đã được TAND tỉnh Hải Dương đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm.
Bị cáo khai: Do nh m của Đ đến gia đình bị cáo ở BGi đập phá đồ đạc, tài sản nên bị cáo đi tìm nh m của Đ để giải quyết mâu thuẫn, yêu cầu bồi thường. Khi gặp nh m của Đ thì bị nh m của Đ chửi bới nên hai bên mới xảy ra x sát. Bị cáo xác định ở cùng với ng nội từ nhỏ, ng nội bị cáo là Phạm Văn S được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Bị cáo nộp thêm biên lai thu tiền án ph , giấy xác nhận của địa phương đối với Phạm Văn N. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Đánh giá về t nh chất hành vi phạm tội, vị tr , vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá việc bị cáo tự nguyện nộp tiền án ph theo quyết định của bản án sơ thẩm, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo chấp hành tốt ch nh sách pháp luật của nhà nước và của địa phương nơi cư trú, bị cáo c ng nội c thành t ch được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới do vậy đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng xử phạt Phạm Văn N 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội "Gây rối trật tự c ng cộng". Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng t nh từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Bị cáo kh ng phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời gian luật định nên kháng cáo hợp pháp. Ngày 12 và 16/9/2018 các bị cáo Vũ Huy Th, Nguyễn Thế H kháng cáo. Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo Vũ Huy Th, Nguyễn Thế H c đơn rút kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 171/2018/HS-PT ngày 15/10/2018 đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Huy Th, Nguyễn Thế H. Do vậy HĐXX kh ng xem xét nội dung kháng cáo của hai bị cáo trong vụ án này.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên c đủ cơ sở kết luận: Do c mâu thuẫn giữa Nguyễn Đình Đ và Phạm Văn Nh nên khoảng 20 giờ ngày 24/6/2017, Nguyễn Đình Đ cùng nh m của T đến quán cầm đồ của Phạm Văn N ở th n S C, xã T H, huyện B G, tỉnh Hải Dương dùng hung kh đập phá tài sản trong quán làm thiệt hại tài sản tổng giá trị là 4.800.000đ.
Sau khi sự việc xảy ra, N đã rủ một số đối tượng đến tìm nh m của Đ để n i chuyện hòa giải mâu thuẫn. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/6/2017, Phạm Văn N và một số người đến nhà hàng Nam Việt - phường Th B, TP Hải Dương gặp nh m của Đ. Tại đây hai bên xảy ra x sát. Phạm Văn N dùng 02 xẻng đuổi đánh Nguyễn Đình Đ, nhặt gạch vỡ ném nhau với nh m Đ, Nguyễn Đình Đ nhặt gạch ném lại nh m N. Vũ Huy Th cầm thanh tuýp sắt hàn dao bầu đuổi đánh nh m Đ và đâm thủng lốp trước xe t Mazda BKS 14C-169.25 của ng Đỗ Văn Ơ đang đỗ ở ven đường, gây thiệt hại tài sản là 3.234.000đ; Cao Văn H cầm thanh tuýp sắt hàn dao bầu đuổi đánh nh m Đ và đâm 2- 3 phát vào lốp sau xe tô Mazda BKS 14C-169.25 nhưng kh ng thủng. Trần Văn Ph cầm khẩu súng đồ chơi bắn 3-4 phát tạo tiếng nổ đe dọa nh m N. Nguyễn Thế H cầm dao cùng các đối tượng khác trong nh m Đ đuổi nhau với nh m N và chém vỡ k nh chắn gi phía sau bên lái xe ô tô Poscher BKS 34A-187.71 của anh Phạm Đức T, gây thiệt hại tài sản là 4.235.000đ. Hành vi của bị cáo N và các bị cáo khác là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người c năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo N và một số bị cáo khác xâm phạm đến trật tự c ng cộng bằng việc đuổi đánh nhau, hò hét gây náo động ở nơi c ng cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, do vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Gây rối trật tự c ng cộng. Bị cáo N và các bị cáo khác sử dụng xẻng, tuýp sắt hàn dao bầu, dao … là vũ kh th sơ trong quá trình gây rối nên phải chịu tình tiết định khung “sử dụng vũ khí” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 245 BLHS năm 1999, nay là điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS năm 2015. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên là c căn cứ pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N đề nghị được hưởng án treo. Về vị trí vai trò của bị cáo HĐXX xét thấy bị cáo là người bị nhóm của Đ đến đập phá tài sản nên bị cáo muốn tìm nhóm của Đ để giải quyết mâu thuẫn, đòi bồi thường nhưng Đ không thiện chí dẫn đến hai bên xô sát, cấp sơ thẩm đánh giá vị trí của N giữ vị trí thứ hai là phù hợp. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp tiền án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm thể hiện thái độ ăn năn hối cải, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Ngoài ra bị cáo và gia đình sinh sống cùng ông nội là Phạm Văn S, ông nội bị cáo có thành tích trong kháng chiến được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Đây là những tình tiết mới nên HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt và được địa phương xác nhận chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước và quy định của địa phương nơi cư trú, bị cáo không có tiền án, tiền sự, c nơi cư trú ổn định rõ ràng, vì vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo, như vậy cũng đủ giáo dụng riêng và phòng ngừa chung đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 163/2018/HS-ST ngày 05-9-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 245, khoản 1 và 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Phạm Văn Nh 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo về tội "Gây rối trật tự c ng cộng". Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng t nh từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/11/2018.
Giao bị cáo Phạm Văn N cho Uỷ ban nhân dân xã H Th, huyện B Gi, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
3. Về án ph : Bị cáo Phạm Văn N kh ng phải chịu án ph hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm kh ng c kháng cáo, kháng nghị, c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 23/11/2018./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư Pháp tỉnh Hải Dương; -Phòng HSNV-Công an tỉnh Hải Dương; - TAND, VKSND, Chi cục T.H.A Dân sự thành phố Hải Dương; - CQCSĐT, CQ T.H.A .HS - CA thành phố Hải Dương; - Bị cáo; -Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Minh Tân |