vanban.org

Bản án 118/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Mẫn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bùi Mẫn H: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, trừ cho bị cáo thời hạn tạm giam từ ngày 12/4/2017 đến ngày 19/7/2017. *Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 118/2017/HSST Tuyên án 29/09/2017
Phúc thẩm Bản án 12/2018/HS-PT Tuyên án 01/02/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Mẫn H phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Mẫn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 245 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2017/HSST
Ngày: 29 - 09 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khúc Trọng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lương

2. Ông Phạm Công Hạ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quyên - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà:

1. Ông Phạm Đình Hiến, Kiểm sát viên

2. Bà Đồng Thị Yến, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2017/HSST ngày 21 tháng 07 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Mẫn H, sinh năm 1986; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn 7, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Bùi Mẫn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1950; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/04/2017 đến ngày 19/07/2017 được thay thế bằng biện pháp cho bảo lĩnh, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Quốc T, Luật sư Văn phòng luật sư N và đồng nghiệp thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng, có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Bùi Mẫn H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do có mâu thuẫn với anh Hoàng Phú D, sinh năm 1981 ở xã T, huyện T nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/4/2014, Hoàng Văn T thấy anh D ngồi tại quán nước ven đường của anh Lê Hồng T, sinh năm 1977 ở T, huyện T gần nhà nghỉ Hoa Thị. T đã đến nhờ Hoàng Phú L đánh anh D. L đồng ý và bảo bạn là Bùi Mẫn C, sinh năm 1994 và Bùi Ngọc T, sinh năm 1993 cùng ở xã Kiền B, huyện T mang theo 02 tuýp sắt đến quán nước của anh Lê Hồng T, để đánh anh D. Tại quán anh T do không biết mặt anh D nên C cầm tuýp sắt đánh nhầm anh Lê Đức T, sinh năm 1988 ở xã Thủy Sơn, huyện Thủy Nguyên, anh T bỏ chạy, C đuổi theo. Thấy anh T bị đánh, Lê Duy T, sinh năm 1990; Lê Văn H, sinh năm 1984; Lê Quốc T, sinh năm 1992 đều ở xã Thủy Sơn, Thủy Nguyên là bạn của anh T mỗi người cầm 02 chai bia Hà Nội ở quán nước nhà anh T; còn Lê Văn H cầm 02 thanh sắt dài khoảng 40cm đuổi đánh C, C bị thương tích nên T đã chở C về nhà L. Tại đây thấy C bị thương L bảo T chở C đi điều trị. L nói với nhóm bạn gồm Nguyễn Thanh S, Hoàng Văn T, Bùi Mẫn H và Phạm Khắc D “lên Thủy Sơn xem bọn nào đánh hai thằng nhỏ”. L vào nhà lấy 01 khẩu súng bắn đạn hoa cải cất vào trong người (không cho S, T, H và D biết), D lấy 01 con dao dài khoảng 50cm cả cán. L bảo D lấy xe mô tô chở L, còn T điều khiển xe mô tô Surius chở S và H mỗi người cầm theo 01 tuýp sắt. Nhóm của L đi đến khu vực tín hiệu đèn giao thông đoạn giao với Quốc lộ 10 đứng chờ đèn đỏ thì H nhảy xuống sang xe của D. Khi đi đến gần quán nước chè của anh T, L nhìn vào thấy có anh Hoàng Phú P (tức PĐ), sinh năm 1986 ở xã Thiên Hương đi xe mô tô Airblade cùng Lê Quốc T vào quán anh T. L hỏi T “Có cả bọn PĐ đấy có vào không”, T bảo “có” và cả bọn vòng xe quay lại. Khi gần đến quán anh T thì thấy anh P chở theo Lê Quốc T cầm theo 01 thanh tuýp sắt đuổi phía sau và gọi “LĐ ơi quay lại tao bảo”. L quay lại thì thấy anh P dùng chân đạp vào xe của T và S, T dùng tuýp sắt vụt vào người T và S. Thấy vậy H và S nhảy xuống cầm tuýp sắt đuổi đánh P và T. P điều khiển xe quay lại ngã tư đèn tín hiệu giao thông Quốc lộ 10 thì gặp xe của D chở L, T dùng tuýp sắt định vụt về phía L. L lấy súng trong người ra hướng về phía T. Thấy vậy P điều khiển xe chở T bỏ chạy, T ngồi sau tiếp tục dùng tuýp sắt vụt về phía sau. D điều khiển xe chở L đuổi theo qua ngã tư Thủy Sơn đến khu vực cây xăng thuộc Công ty xăng dầu khu vực III gần lối vào Trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, khi xe của L cách xe của P, T khoảng 2,5 mét thì L bắn 01 phát về phía P và T, làm P, T bị thương ngã ra đường và được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện.

Sau khi bắn gây thương tích cho anh P, T, D chở L bỏ chạy về hướng cầu Kiền trên đường đi D đã vứt dao ở rìa đường, T, S, H, cũng bỏ chạy theo L. Tại cầu Kiền, L vứt vỏ đạn xuống sông và nói với cả bọn “tao vừa bắn thằng PĐ” và rủ D, H, T, S đến nhà Bùi Hoàng T ở xã Kim Lương, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương để trốn. Tại nhà T, L không cho T biết việc vừa bắn P và T và đưa khẩu súng hoa cải nhờ T cất giữ hộ, T đồng ý. Sau đó L, D, H, S bỏ trốn, T đi xe về nhà.

Bùi Hoàng T cất giấu khẩu súng ở góc nhà. Đến khoảng tháng 6/2014, qua tìm hiểu T biết khẩu súng mà T đang cất giữ là khẩu súng L đã dùng bắn P và T ngày 20/4/2014 tại huyện Thủy Nguyên. Do sợ hãi T đã mang súng gửi Nguyễn Văn C, sinh năm 1988 ở xã Ngũ Phúc, Kim Thành, Hải Dương (là bạn của T).

Ngày 29/01/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã thu giữ được khẩu súng trên được gói trong áo khoác thun màu ghi, có sọc đỏ trắng tại bụi tre thuộc thôn Dưỡng Mông, xã Ngũ Phúc, Kim Thành, Hải Dương (L, T nhận dạng được khẩu súng đó là của mình).

Tại bản kết luận giám định pháp y số 185-PY/2014 ngày 05/5/2014 và số 191-PY/2014 ngày 14/5/2014 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Lê Quốc T bị thương ở mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái có 21 vết thương nhỏ, mỗi vết 0,2cm. Thương tích trên làm giảm 09% sức khỏe của nạn nhân. Nạn nhân Hoàng Phú P vùng sau vai trái có nhiều vết thương nhỏ trên diện rộng 12x11 cm, vết lớn nhất kích thước 3x2cm, các vết thương trên gây tràn dịch, khí màng phổi, đụng dập nhu mô phổi trái, tổng hợp thương tích làm giảm 38% sức khỏe. Các thương tích trên của Hoàng Phú P và Lê Quốc T có đặc điểm do hỏa khí gây nên.

Tại bản án hình sự số 104/2015/HSST ngày 06/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã xử phạt Hoàng Phú L 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; Bùi Hoàng T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; Hoàng Văn T, Lê Quốc T và Nguyễn Thanh S 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Trong vụ án này Phạm Khắc D hiện bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố bị can Phạm Khắc D về tội “Cố ý gây thương tích” và ra Lệnh truy nã. Do chưa bắt được bị can nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã ra Quyết định tách vụ án, tách bị can để điều tra, xử lý riêng.

Bùi Mẫn C, Bùi Ngọc T, Lê Duy T đã có hành vi đánh nhau trước cửa cây xăng khu vực III thuộc xã Thủy Sơn nhưng không gây hậu quả nghiêm trọng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý hành chính đối với C, T và T.

Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 21/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Bùi Mẫn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 245; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Mẫn H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Ông Bùi Quốc T, Luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Mẫn H trình bày:

- Ông không tranh luận về tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo Bùi Mẫn H.

- Ông đề nghị hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu, mờ nhạt, không trực tiếp tham gia vào hành vi đánh nhau gây thương tích với các bị cáo khác. Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo tỏ ra thành khẩn, ăn năn hối cải. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, hiện đang ở với mẹ già, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bản thân bị cáo hoàn thành nghĩa vụ quân sự, do vậy đề nghị hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức án 6 tháng tù là phù hợp.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo, luật sư bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên toà bị cáo khai báo còn quanh co về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, căn cứ vào chính lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các bị cáo đã bị xét xử trước đó, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y số 185-PY/2014 ngày 05/5/2014 và số 191-PY/2014 ngày 14/5/2014 của Trung tâm pháp y Hải Phòng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà, thể hiện:

Bị cáo Bùi Mẫn H và các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Thanh S và Lê Quốc T đã có hành vi dùng tuýp sắt đuổi đánh nhau dẫn đến việc bị cáo Hoàng Phú L dùng súng bắn gây hậu quả làm anh Hoàng Phú P bị thương tích giảm 38% sức lao động. Như vậy với hành vi các bị cáo đã thực hiện tại nơi có đông người, gây náo động làm mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý bất an cho quần chúng nhân dân. Do đó hành vi của bị cáo Bùi Mẫn H đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 245 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Trong thời gian qua trên địa bàn huyện Thủy Nguyên xảy ra một số vụ xô xát giữa các nhóm thanh niên gây hậu quả rất nghiêm trọng, mà nguyên nhân là từ những mâu thuẫn trong sinh hoạt. Lối hành xử thích dùng bạo lực của bị cáo như trên phải được xử lý nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Bùi Mẫn H phạm tội nhưng không vi phạm các tình tiết tăng nặng định khung nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự như kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và quyết định hình phạt.

Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo tỏ ra thành khẩn mặc dù vẫn còn quanh co về hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo thừa nhận lời khai có trong hồ sơ vụ án là đúng và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng. Gia đình bị cáo có bác ruột là liệt sỹ. Do vậy hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “khai báo thành khẩn” và “gia đình có công với cách mạng” quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình. Chấp nhận quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ này.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình đang nuôi mẹ già và bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nhưng không có các tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên không có cơ sở để xem xét áp dụng cho bị cáo.

Xét bị cáo Bùi Mẫn H tham gia phạm tội trong vụ án với vai trò là người thực hành tích cực, tuy không phải là người trực tiếp gây thương tích cho các người bị hại nhưng hành vi của các bị cáo cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo Hoàng Phú Long gây thương tích cho các người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo lại được thực hiện nơi công cộng, đông người qua lại, gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu và tâm trạng bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo sau khi phạm tội còn bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án do đó cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cần xử bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Mẫn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng khoản 1 Điều 245; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo:

Bùi Mẫn H: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, trừ cho bị cáo thời hạn tạm giam từ ngày 12/4/2017 đến ngày 19/7/2017.

*Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Bùi Mẫn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

* Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ