vanban.org

Bản án 1175/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thúy H đối với bị đơn là ông Nguyễn Hữu Kh:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Kh. Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2017, đăng ký kết hôn giữa bà Hoàng Thị Thúy H và ông Nguyễn Hữu Kh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/6/2017 không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thúy H và bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Kh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thúy H đối với bị đơn là ông Nguyễn Hữu Kh:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1175/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/9/2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Chính.

2. Bà Lê Thị Khanh.

Thư ký phiên toà: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Ngọc Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 588/2023/TLST – HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 458/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 325/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thúy H, sinh năm: 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Ấp D, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi ở: Ấp L, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Kh, sinh năm: 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/6/2023, bản tự khai ngày 28/6/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thúy H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2017 bà và ông Nguyễn Hữu Kh kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trước khi kết hôn và sau khi kết hôn hai vợ chồng không sống chung với nhau, nhà ai người đó ở, lý do cha mẹ chồng không chấp nhận bà, hai bên chỉ đăng ký kết hôn không tổ chức đám cưới; bà cảm thấy không hợp với ông Kh, luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, ông Kh luôn muốn kiểm soát bà mọi thứ như điện thoại, Zalo, Facebook, mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp, nhiều lần ông Kh điện thoại, nhắn tin xúc phạm, đánh đập bà khi bà không nói về việc ra ngoài gặp bạn. Bà cảm thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không được tôn trọng, mâu thuẫn vợ chồng nghiêm trọng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Kh.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 22/4/2017, bà yêu cầu giao cháu Hoàng L cho ông Kh nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, bà không cấp dưỡng nuôi. Lý do hiện cháu Hoàng L đang sống cùng ông Kh, do ông Kh có nhà, công việc ổn định hơn nữa để tiện việc học hành cho cháu Hoàng L.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Nguyễn Hữu Kh đã được Tòa án nhân dân huyện H triệu tập và tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng không có ý kiến đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thúy H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn là ông Nguyễn Hữu Kh đã được Tòa án nhân dân huyện H triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Quan điểm giải quyết vụ án: Việc bà Hoàng Thị Thúy H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu Kh là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bởi bà H và ông Kh không còn chung sống với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mâu thuẫn hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; giao cháu Nguyễn Hoàng L cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, nguyên đơn tạm thời chưa phải cấp dưỡng nuôi con do bị đơn chưa có yêu cầu; về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn tự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Hữu Kh nhưng ông Kh không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do nên giữa các đương sự không thống nhất được bất kỳ nội dung nào của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Hoàng Thị Thúy H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Nguyễn Hữu Kh. Ông Nguyễn Hữu Kh cư trú tại ấp N, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và quan hệ tranh chấp là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thúy H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Nguyễn Hữu Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thúy H và ông Nguyễn Hữu Kh kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/6/2017 (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 88/2017 ngày 09/6/2017) nên có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Kh là hợp pháp, quyền lợi của các bên được pháp luật bảo vệ.

. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thúy H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của nguyên đơn thì trong quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Kh luôn muốn kiểm soát bà mọi thứ như điện thoại, Zalo, Facebook, mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp, nhiều lần ông Kh điện thoại, nhắn tin xúc phạm bà; có 01 lần đánh đập bà khi bà không nói về việc ra ngoài gặp bạn. Trước khi kết hôn và sau khi kết hôn hai vợ chồng không sống chung với nhau, nhà ai người đó ở, hai vợ chồng chỉ gặp nhau ngày cuối tuần, lý do cha mẹ chồng không chấp nhận bà, hai bên chỉ đăng ký kết hôn không tổ chức đám cưới.

. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần giải thích, động viên bà H đoàn tụ gia đình, cùng ông Kh hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con nên người nhưng bà H cho rằng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, bà cảm thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không được tôn trọng, mâu thuẫn vợ chồng nghiêm trọng không thể hàn gắn nên vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông Kh.

. Về phần ông Kh, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện H tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Kh không có bất cứ ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do, điều này cho thấy ông Kh đã từ bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải tự chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ trên yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét, giải quyết vụ án.

. Trong suốt thời gian bà H nộp đơn yêu cầu ly hôn, ông Kh cũng không có bất cứ động thái nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều này chứng tỏ ông Kh cũng không còn mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân này để vợ chồng cùng vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình.

. Nhận thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, giữa bà H và ông Kh không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau, mỗi người đều chỉ lo cuộc sống riêng của mình. Như vậy, bà H, ông Kh đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Xét mâu thuẫn chung giữa bà H và ông Kh đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận.

. Về con chung: Bà Hoàng Thị Thúy H và ông Nguyễn Hữu Kh có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 22/4/2017, bà H yêu cầu giao cháu Hoàng L cho ông Kh nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, bà không cấp dưỡng nuôi.

. Xét cháu Hoàng L đang do ông Kh chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, bản thân ông Kh có chỗ ở, công việc cũng như thu nhập ổn định trong khi đó bà H mới đi làm lại, thu nhập chưa ổn định, còn phải đi thuê trọ, do đó để bảo đảm về điều kiện nuôi dưỡng, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý và quyền lợi của cháu Hoàng L, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bà H giao cháu Hoàng L cho ông Kh trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Do ông Kh chưa có yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy, bà H, ông Kh phải tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

. Về tài sản chung: Bà Hoàng Thị Thúy H xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: Bà Hoàng Thị Thúy H xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Hoàng Thị Thúy H là người nộp đơn yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Hữu Kh nên bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự ;

- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Căn cứ vào các điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Thúy H đối với bị đơn là ông Nguyễn Hữu Kh:

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Thúy H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Kh.

Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2017, đăng ký kết hôn giữa bà Hoàng Thị Thúy H và ông Nguyễn Hữu Kh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/6/2017 không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

3. Về con chung: Bà Hoàng Thị Thúy H và ông Nguyễn Hữu Kh có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 22/4/2017.

Giao cháu Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 22/4/2017 cho ông Nguyễn Hữu Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, bà H tạm thời chưa phải cấp dưỡng nuôi con do ông Kh chưa có yêu cầu.

Bà Hoàng Thị Thúy H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

4. Về tài sản chung: Bà Hoàng Thị Thúy H xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Bà Hoàng Thị Thúy H xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hoàng Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2022/0016587 ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; bà Hoàng Thị Thúy H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

8. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ