- Tranh chấp gì? án hình sự — "Án PT 1174- 26.12.2024- Nguyễn Văn L Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1174/2024/HS-PT Ngày 26 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;
Thẩm phán:
Ông Mai Văn Quang;
Ông Đinh Quốc Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đặng Khánh Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 26/12/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1090/2024/TLPT-HS ngày 14/11/2024; Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T và kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1989; ĐKHKTT: Xóm P, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học phổ thông: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Nguyễn Văn P và con bà Từ Thị Thu H; Gia đình có hai anh em, bị cáo thứ nhất; Vợ Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990; Có 02 con, sinh năm 2013 và sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Vụ án còn có bị hại ông Nguyễn Văn M không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 27/3/2024, ông Nguyễn Văn P đang xây tường bao cho gia đình ông Nguyễn Văn H2 (là anh trai ông P) tại xóm P, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội thì bị hại Nguyễn Văn M cho rằng gia đình ông H2 đã xây lấn sang phần đất của nhà mình nên anh M và chị Nguyễn Thị Huyền T, (em gái anh M) có lời qua tiếng lại với ông H2. Đồng thời, anh M ngồi trên tường bao của nhà mình tay cầm chiếc xà beng chỉ xuống phía tường bao nhà ông H2 đang xây thì ông H2 lao vào giật được chiếc xà beng ném xuống đống gạch nên anh M và chị T yêu cầu ông H2 trả chiếc xà beng thì ông H2 trả chiếc xà beng cho anh M. Lúc này bị cáo Nguyễn Văn L, con trai ông P đi đến chửi M và chị T, anh M cầm chiếc xà beng chỉ xuống hàng gạch ông P đang xây, ông P và anh M có lời qua tiếng lại thì ông P cầm chiếc xà beng giằng co với M, thấy vậy bị cáo L nhặt viên gạch đỏ kích thước khoảng (20x10x5cm) ném về phía anh M thì trúng vào ngực bên trái rồi rơi xuống cẳng tay trái của anh M, anh M tiếp tục giằng co chiếc xà beng với ông P một lúc thì ông P bỏ tay ra nhưng hai bên vẫn lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau, bị cáo L tiếp tục nhặt 02 viên gạch đỏ ném về phía anh M nhưng không trúng. Sau đó, mọi người can ngăn đẩy bị cáo L đi về nhà, còn anh M được đưa đi khám tại phòng khám Đ, xã V, huyện T. Hậu quả: Anh Nguyễn Văn M bị gẫy mỏm trâm trụ cẳng tay trái.
Ngày 28/3/2024, chị Nguyễn Thị Huyền T đến Công an xã H trình báo sự việc và giao nộp 02 viên gạch kích thước (20x10x5cm), 01 chiếc xà beng dài 133cm, đường kính 0,5cm.
Ngày 31/3/2024, chị Nguyễn Thị Huyền T tự nguyện giao nộp cho Công an xã H 01 chiếc USB bên trong có 02 đoạn video liên quan đến vụ việc xảy ra ngày 27/3/2024.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 408/KLTTCT-TTPY ngày 24/5/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn M tại thời điểm giám định là 06% (sáu phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày gây nên.
Tại bản Kết luận giám định số 5079 ngày 11/7/202 của Phòng Kỹ thuật Công an Thành phố H kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video ký hiệu A1 gửi giám định. Không xác định được file video ký hiệu A2 gửi giám đình có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh hay không do nội dung file video không liên tục tại thời điểm 02 phút 08 giây (thời gian tính theo thời lượng file video).
Về dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Văn M yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 50.000.000 đồng, trong đó: Chi phí khám chữa bệnh là 4.365.100 đồng; chi phí đi lại, ăn uống là 8.500.000 đồng; tiền mất thu nhập của anh M và người chăm sóc làm nghề lao động tự do là 19.900.000 đồng; bồi thường tổn thất tinh thần là 21.234.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Văn M đề nghị Hội đồng xét xử xét xử theo quy định của pháp luật và ấn định mức bồi thường trách nhiệm dân sự của bị cáo L cho anh M.
Đối với chiếc xà beng thu giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh M, anh M nhận lại và không có ý kiến gì.
Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSTT ngày 16/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2024/HSST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Cố ý gây thương tích.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKSTT ngày 09/10/2024 kháng nghị về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn L.
Ngày 02/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo đúng người, đúng tội; tuy nhiên mức hình phạt 06 tháng tù là nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường cho bị hại. Mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
+ Bị cáo nộp đơn kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân huyện T kháng nghị trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T theo trình tự phúc thẩm.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 110/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Cố ý gây thương tích.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 65; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Bị cáo không tham gia tranh luận và xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự, thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Xuất phát từ việc mâu thuẫn trong quá trình xây dựng tường rào, khoảng 17 giờ 00 phút ngày 27/3/2024, tại khu vực thi công, xây dựng nhà của gia đình ông Nguyễn Văn H2 ở xóm P, xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn L có hành vi dùng 03 viên gạch đỏ với kích thước mỗi viên khoảng (20x10x5cm) ném về phía bị hại Nguyễn Văn M (01 viên gạch trúng vào ngực bên trái anh M rồi rơi xuống cẳng tay trái anh M, 02 viên không trúng anh M) làm anh M bị gãy mỏm trâm trụ cẳng tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6%. Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn L đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Về hình phạt: Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, vai trò đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo trình bày là đã nộp 16.665.000đ tiền bồi thường cho bị hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T; bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, xử cho bị cáo được hưởng án treo vẫn đảm bảo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật. Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội.
II. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 110/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, Thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Cố ý gây thương tích.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 65; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:
Nguyễn Văn L 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS TP Hà Nội; - Tòa án và VKS huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - UBND xã H, huyện T, Hà Nội; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Phong |