- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Cao Trần T-Nguyễn Anh D"
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! Bản án số: 1172/2018/DS-PT Ngày:10/12/2018 V/v Tranh chấp quyền sử dụng |
đất và đòi tài sản!
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu"
Các"Thẩm"phán:
1.Bà Đỗ Thanh Hương
2.Bà Huỳnh Thụy Xuân Vinh"
Thư"ký"tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Nguyễn Long Tiền Nhật
Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh:"Bà Nguyễn Thị
Ngọc Thùy - Kiểm sát viên."
Vào ngày 10 tháng 12 năm 2018, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 463/DSPT ngày
27 tháng 9 năm 2018 về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi tài sản ”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2018/DSST ngày 17/8/2018 của Tòa án nhân
dân huyện B bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5160/QĐXXPT-DS ngày 02 tháng 1
năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 9629/2018/QĐPT-DS ngày 22 tháng 11
năm 2018, giữa:
Nguyên"đơn:1."Ông!Cao!Trần!T, sinh năm: 1954 (Có mặt) "
2. Bà Huỳnh!Thị!Anh!Đ, sinh năm: 1956 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số 77 đường T, phường T, quận M, thành phố Hồ Chí Minh.
Người"bảo"vệ"quyền"và"lợi"ích"hợp"pháp"của"nguyên"đơn: Bà Nguyễn Thị
Huyền T, Luật sư thuộc Công ty Luật hợp danh V thuộc Đoàn luật sư Thành phố
Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Bị"đơn: Ông Nguyễn!Anh!D, sinh năm: 1969 (Có mặt)
Địa chỉ: Số 165/6B2 đường V, phường 8, quận S, thành phố Hồ Chí Minh
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:"
1."Công ty trách nhiệm hữu hạn đá hoa cương C (Yêu cầu xét xử vắng mặt)
Trụ sở: B16/21 Quốc lộ 50, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Nhật T, sinh năm: 1962
Địa chỉ: D3/ 73 ấp 4, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Ông Trần Văn K, sinh năm 1964 (Có mặt)
Địa chỉ: 165/6B2 đường V, phường 8, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có
mặt)
3. Bà Nguyễn Kim L,!sinh năm: 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 165/6B2 đường V, phường 8, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Tóm!tắt!án!sơ!thẩm!
Ông Cao Trần T, bà Huỳnh Thị Anh Đ trình bày:! Vào năm 1989, Vợ
chồng ông Cao Trần T và bà Huỳnh Thị Anh Đ nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị S, phần đất có diện tích 1.400m2 ngang 25,5m; dài 55m và trên đất có ½ căn nhà 498 đường 5, ấp 2 (số mới B16/ 23 Quốc lộ, ấp 1) xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM); sử dụng làm trại chăn nuôi; đến năm 1997, chấp hành chủ trương của nhà nước về thu hồi đất làm đường N, ông bà T, đã giao đất, nhận tiền bồi thường đối với diện tích 1.120m2. Thực tế, nhà nước chưa thu hồi đất, nên từ năm 1998 ông bà tạm giao toàn bộ phần đất cho người sử dụng đất liền kề (là con của ông H, bà S) nhờ trông coi và sử dụng phần đất đến khi nào đường N hoàn thành thì báo cho ông bà T biết. Tuy nhiên, do họ không thông báo nên đến năm 2009 ông bà T thăm phần đất của mình và phát hiện ông Nguyễn Anh D lấn chiếm để sử dụng.!
Năm 2009 ông bà T khiếu nại đến Ủy ban nhân dân (UBND) xã B và được
xã tiến hành hòa giải, đo vẽ lại phần đất, công bố bản vẽ hiện trạng cho ông D, bà L biết. Sau khi công bố bản vẽ thì ông D bà L xác nhận có sử dụng phần đất của ông bà T và đồng ý trả lại đất cho ông bà T, có xin thuê lại đất sáu tháng để di dời. Nhưng sau đó ông D, bà L chỉ trả một phần đất đã thuê 31m2, phần còn lại 60,7m2 chưa trả, nên phát sinh tranh chấp.
Căn cứ vào bản vẽ hiện trạng ngày 15/ 4/ 2016 của Trung tâm đo đạc bản đồ
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, ông bà T yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 91,7m2 (tại vị trí 1, 4, 5 bản vẽ ) thửa 440 và một phần thửa 442 tờ bản đồ số 10, xã B (theo tài liệu 02/CT-UB), thuộc quyền sử dụng của ông bà T và yêu cầu ông D tháo dỡ vật kiến trúc, trả lại cho ông bà T phần đất diện tích 60,7m2 tại vị trí 1, đồng thời yêu cầu ông D, bà L hoàn trả lại tiền lợi tức mà ông D, bà L đã hưởng lợi từ việc cho người khác thuê mặt bằng từ tháng 4/ 2010 cho đến khi vụ án được đưa ra xét xử đối với phần đất có vị trí số 1 với diện tích 60,7m2.
Cụ thể từ ngày 02/6/2010 đến ngày 02/5/2014 (47 tháng): 5.000.000 đồng x
47 tháng = 235.000.000 đồng (căn cứ theo hợp đồng thuê đất ngày 02/12/2010
giữa ông D với ông T, bà Đ);
Từ ngày 02/5/2014 đến ngày 16/8/2018 (51,5 tháng): 12.000.000 đồng x
51,5 = 618.000.000 đồng (số tiền ông D cho ông Trần Nhật T thuê); yêu cầu ông
D, bà L hoàn trả 1/3 số tiền trên là 206.000.000 đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Anh D (có đại diện) trình bày:
Vào ngày 02/12/2008, ông Nguyễn Anh D và ông Trần Văn K có lập “Tờ
thỏa thuận mua bán đất và xác nhà khu giải tỏa” với diện tích 165m2 (ngang 5,5m;
dài 30m) tọa lạc tại địa chỉ B16/21 ấp 2, xã B, huyện B, TPHCM với giá
150.000.000 đồng. Ông D đã thanh toán đủ tiền mua nhà đất cho ông K, nhận nhà
và trực tiếp sử dụng từ đó đến nay. Đến năm 2015, ông bà T tranh chấp với ông D
quyền sử dụng đất; đòi lại quyền sử dụng đất có căn nhà tọa lạc tại B16/23 ấp 2,
xã B, huyện B, Tp.HCM và đòi số tiền sử dụng mặt bằng để kinh doanh từ tháng
4/ 2010 đến tháng 11/ 2015 là 480.000.000 đồng (bốn trăm tám mươi triệu).
Ông D không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông bà T vì phần đất đang
tranh chấp là do ông D mua lại của ông Trần Văn K, có căn nhà B16/21 Quốc Lộ
ấp 2, xã B, huyện B, TP. HCM. Mặt khác, phần đất thuộc thửa 440, 442 của ông
T, bà Đ nằm giáp ranh liền kề với khu đất của ông K, đều đã nhận tiền bồi thường
do thu hồi đất xong.
Ông D cũng không tranh chấp với ông K về hợp đồng mua bán nhà trong vụ
án này.
Ông bà T yêu cầu ông D phải trả số tiền do ông D sử dụng mặt bằng để kinh
doanh là không có cơ sở, bỡi lẽ ông D có ký hợp đồng cho thuê mặt bằng với ông
Trần Nhật T, thuê từ tháng 5/2014 với giá 12.000.000 đồng/tháng, nội dung: “Bên
A cho bên B thuê toàn bộ diện tích nhà và đất căn nhà B16/21 Quốc Lộ, ấp 2 xã
B, huyện B, TP. HCM (từ mặt tiền Quốc Lộ 50 đến mặt tiền đường N). Mục đích
thuê: Sản xuất, kinh doanh. Thời hạn thuê mặt bằng là 02 năm, tính từ ngày
15/4/2014 đến hết ngày 15/4/2016..”. Quá trình ông T thuê sử dụng thì căn nhà
B16/21 bị cháy vào tối 26/ 4/ 2015 do sự cố hỏa hoạn. Sau đó ông T cất lại căn
nhà sau vụ cháy đến nay thì phần đất và căn nhà B16/21 vẫn do ông T vẫn sử
dụng và trả tiền thuê hàng tháng cho ông D.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Kim L trình bày:!Bà là
vợ của ông Nguyễn Anh D, thống nhất ý kiến của ông D, bà L không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của ông T, bà Đ.!
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Trần Văn K trình bày:
Nguyên trước đây, ông là chủ sở hữu phần nhà đất có căn nhà số B16/21 Quốc Lộ
50 ấp 2, xã B, huyện B, Tp.HCM. Vào năm 2000, ông đã nhận tiền bồi thường, giải tỏa từ công ty cổ phần phát triển Nam Sài Gòn đối với phần diện tích 93,45m2 đất, có nhà này. Ông không khiếu nại gì. Trong thời gian chờ bàn giao mặt bằng, năm 2008, ông K đã sang nhượng và giao lại phần nhà đất này cho ông Nguyễn Anh D, bà Nguyễn Kim L với giá 150.000.000 đồng; thỏa thuận đến khi nào có lệnh bàn giao mặt bằng của nhà nước, thì vợ chồng ông D phải bàn giao. Do đó, ông không có ý kiến hay tranh chấp gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty trách nhiệm hữu hạn đá
hoa cương Thành Công (có ông Trần Nhật T làm đại diện theo pháp luật – giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0312749771) trình bày:! Ngày 11/4/2014, ông Trần Nhật T – đại diện công ty trách nhiệm hữu hạn đá hoa cương Thành Công có ký hợp đồng tay, không công chứng, thuê mặt bằng của ông Nguyễn Anh D tại địa chỉ số B16/21 Quốc Lộ 50, ấp 2, xã B, huyện B, TPHCM với thời hạn thuê là 02 năm, tính từ ngày 15/4/2014 đến hết ngày 15/4/2016. Công ty đã trả tiền thuê mặt bằng hàng tháng đầy đủ cho ông D, 06 tháng đầu giá thuê 10.000.000 đồng/tháng và bắt đầu tháng thứ bảy giá thuê giá thuê 12.000.000 đồng/tháng cho đến nay. Các bên thỏa thuận căn nhà này có Quyết định thu hồi đất, đã bồi thường xong nên khi có lệnh giao nhà, đất thì công ty sẽ trả lại mặt bằng. Ông T, bà Đ có tranh chấp với ông D nhà đất thì Công ty không có ý kiến tranh chấp và trả lại mặt bằng.!
Tại!Bản!án!dân!sự!sơ!thẩm!số!132/2018/DSST!ngày!17/8/2018!,!Tòa!án!
nhân!dân!huyện!B!đã!xử:!
-!Công nhận phần đất có diện tích 91,7m2 (tại vị trí 1, 4, 5 bản vẽ) thuộc một
phần thửa 440, 442, tờ bản đồ số 10 (theo tài liệu 02/CT-UB), theo bản đồ ngày 15/ 4/ 2016 là của ông Cao Trần T và bà Huỳnh Thị Anh Đ.!
- Buộc ông Nguyễn Anh D, bà Nguyễn Kim L có trách nhiệm tự tháo dỡ di
dời công trình, vật kiến trúc trên phần đất có diện tích 60,7m2 thuộc một phần thửa 440, 442, tờ bản đồ số 10 (theo tài liệu 02/CT-UB) để trả lại cho ông T, bà Đ. !
- Buộc ông Nguyễn Anh D, bà Nguyễn Kim L phải hoàn trả cho ông T, bà Đ
tiền lợi tức do việc sử dụng đất lấn chiếm với tổng số tiền 441.000.000 đồng, theo phương thức trả 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu khởi của ông T và bà Đ về việc tiếp tục được sử dụng
phần đất có diện tích 130,5m2 (tại vị trí 2,3 bảng ghi chú diện tích) của bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Tp.HCM lập ngày 15/4/2016.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 28/8/2018 ông Nguyễn Anh D kháng cáo bản án sơ thẩm;
Tại!Phiên!tòa!phúc!thẩm:!!
- Người kháng cáo chỉ kháng cáo, yêu cầu bác khởi kiện của ông T, bà Đ đòi
công nhận quyền sử dụng đất 91,7m2 thuộc một phần thửa 440 – 442 xã B huyện
B và đòi hoàn trả 60,7m2/91,7m2 cho ông bà T, tiền lợi tức phát sinh từ việc sử
dụng, cho thuê đất. Căn nhà số B16/21 do vợ chồng ông D mua của ông Trần Văn
K. Còn căn nhà B 16/ 23 là của ông, bà T thì ông D đã thuê và đã trả cho ông bà T
31m2/91,7m2 rồi.
- Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm. UBND xã xác định số nhà
B16/21 hoặc B16/23 là do người dân tự ghi tự treo biển hiệu, nên không có cơ sở
xác định phần đất mà ông bà T đòi ông D, bà L trả có căn nhà B16/21 là không
phải của ông bà T. Phần đất tranh chấp đã được các bên đương sự hướng dẫn đo
vẽ và có kết quả trả lời của UBND xã, huyện công nhận ông bà T có đăng ký, sử
dụng. Sau khi thu hồi đất, chủ đầu tư dự án cũng có văn bản xác định phần đất mà
ông bà T tranh chấp với ông D, bà L, không thuộc phạm vi giải tỏa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Phần
đất tranh chấp có nguồn gốc từ việc ông Cao Trần T, bà Huỳnh Thị Anh Đ nhận
chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Sáu và ông Nguyễn Văn Hoàng từ năm 1989.
Ông T, bà Đ đã trực tiếp quản lý, sử dụng, đăng ký, kê khai và thực hiện nghĩa vụ
thuế đầy đủ đối với nhà nước. Năm 2006, ông D đã lấn chiếm phần đất của ông T,
bà Đ để sử dụng nên các bên phát sinh tranh chấp và tại biên bản hòa giải ngày
02/12/2009 ông D, bà L đã thừa nhận phần đất tranh chấp là của ông T, bà Đ và
xin thuê lại trong thời hạn từ ngày 02/12/2009 đến ngày 02/6/2010. Tuy nhiên,
sau đó ông D và bà L không dọn đi mà cố tình chiếm sử dụng và cho người khác
thuê phần đất trên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.
- Ông Trần Văn K xác định số nhà B16/21 là của ông bán cho ông D. Yêu
cầu Tòa chấp nhận kháng cáo của ông D.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM phát biểu: Thẩm phán và Hội
đồng xét xử đã tuân thủ đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý
đến trước khi nghị án. Các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật tại phiên tòa.
Về nội dung: bản vẽ ngày 15/4/2016 thể hiện vị trí tranh chấp và có xác nhận của
UBND xã, huyện rằng do ông T, bà Đ đăng ký sử dụng diện tích 91,7m2 thuộc
một phần thửa 440, 442 tờ bản đồ số 10 xã B, huyện B. Xuyên suốt vụ án ông D
cho rằng nhà đang sử dụng B16/21 bị ông T bà Đ tranh chấp chưa bị giải tỏa, tuy
nhiên ông K khai nhận nhà bán cho ông D thuộc vị trí đất đã bị giải tỏa toàn bộ.
ông T bà Đ yêu cầu ông D trả tiền lợi tức từ việc sử dụng mặt bằng của ông T và
cho thuê lại , là đúng. đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên án sơ
thẩm.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau"khi"nghiên"cứu"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án,"được"thẩm"tra"tại"phiên"
tòa"và"căn"cứ"vào"kết"quả"tranh"luận"tại"phiên"tòa,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"định:"
[1]. Về!thủ!tục!tố!tụng:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Anh D làm trong hạn luật định, hợp lệ nên
chấp nhận.
[2].!Về!nội!dung:
Đối tượng tranh chấp là phần đất diện tích 91,7m2 thuộc thửa 440; một phần
thửa 442 tờ bản đồ số 10, xã B (theo tài liệu 02/CT-UB), huyện B, Tp.HCM và lợi tức từ việc sử dụng mặt bằng.
2.1.! Ông! Cao! Trần! T,! bà! Huỳnh! Thị! Anh! Đ! yêu! cầu! được! công! nhận!
quyền!sử!dụng!đất,!diện!tích!91,7m2!thuộc!thửa!440;!một!phần!thửa!442!tờ! bản!đồ!số!10,!xã!B!(theo!tài!liệu!02/CT-UB),!huyện!B,!Tp.HCM,!Theo!bản!đồ! hiện!trang!vị!trí!do!Trung!tâm!đo!đạc!bản!đồ!thuộc!Sở!Tài!nguyên!và!Môi! trường!TPHCM!lập!ngày!15/4/2016!(gọi!tắt!là!bản!vẽ!ngày!15/!4/!2016),!xét:!!
Bản vẽ ngày 15/4/2016 thể hiện ranh giới sử dụng đất do phía ông T, bà Đ,
ông D hướng dẫn đo vẽ và áp lên bản đồ qua các thời kỳ theo tài liệu chỉ thị 299/TTg, Chỉ thị 02/CT-UB, tài liệu năm 2006;
Phía ông D cũng không có khiếu nại và đồng ý với bản vẽ này (BL 320, 340).
Diện tích đất tranh chấp 91,7m2 (tại vị trí 1, 4, 5 bảng ghi chú của bản vẽ
ngày 15/4/2016) thuộc thửa 440-1, - 3, thửa 442-1, tờ bản đồ số 10, xã B, huyện B, Tp.HCM (theo tài liệu 02/CT-UB), không thuộc lộ giới.
Ông D cho rằng căn nhà B16/21 ấp 2, xã B, huyện B, TPHCM là do ông mua
lại của ông Trần Văn K theo “ Tờ"thỏa"thuận"mua"bán"đất"và"xác"nhà"khu"giải"tỏa" ngày"02/2/2008 ”. Xét ông K khai chỉ bán nhà, không bán đất vì nhà, đất đã bị giải tỏa và ông K đã nhận bồi thường, có thỏa thuận với ông D khi nào nhà nước có lệnh bàn giao mặt bằng thì ông D phải giao. Kể cả phần đất mà ông bà T tranh chấp với ông D cũng đã bị thu hồi, nhận tiền bồi thường xong.
Xét Công ty Cổ phần phát triển Nam Sài Gòn trả lời xác định phần diện tích
đất của ông bà T bị thu hồi theo dự án đường N là 1.263m2, phần còn lại 117m2 không bị thu hồi (BL 304).
Lời khai của ông D cho rằng căn nhà B16/ 21 do ông mua của ông K, còn
căn nhà B16/ 23 là của ông T, bà Đ. Hiện trạng khi ông T bà Đ hướng dẫn đo đạc phần đất của ông T, bà Đ bao gồm cả căn nhà B16/ 21 là không đúng. Xét căn nhà số 498 liên tỉnh 5 ấp 2, xã B, huyện B, trên diện tích đất 1.400m2 do ông bà T nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Hoàng và bà Nguyễn Thị Sáu, có các giấy tờ mua bán, giấy phép chuyển dịch mua bán nhà (BL 80, 83) và được UBND xã xác nhận vị trí số nhà mới là B16/ 23 Quốc lộ 50, ấp 1, xã B huyện B (BL 262). UBND xã ghi nhận: việc xác định số nhà mới B16/ 21 hoặc B16/ 23 do người
dân tự ghi, tự treo biển hiệu số nhà (BL 282) và tình tiết cần lưu ý là vào năm
2015 ông D thừa nhận căn nhà B16/ 21 bị cháy (BL 371), mặt khác tại phiếu nhận
tiền bồi thường giải tỏa khu đất của ông K cũng ghi “ địa"chỉ"nhà"hoặc"vật"kiến"
trúc"bị"giải"tỏa : C16/"21 “ (BL 210), nên không có cơ sở xác định phần đất có căn
nhà số B 16/ 21 của ông D, bà L đang sử dụng, không trùng lên phần đất có căn
nhà số B16/23.
Mặt khác xuyên suốt vụ án, ông K đều khẳng định diện tích đất bán cho ông
D, bà L đã bị giải tỏa toàn bộ; ông K đã nhận tiền bồi thường xong. Khác với vị trí
đất có nhà mà ông ông T, bà Đ tranh chấp chưa bị nhà nước thu hồi đất.
Xét khi ông bà T có khiếu nại, ngày 02/12/2009 tại buổi hòa giải tranh chấp
đất thuộc thửa 440, 442 tờ bản đồ số 10 xã B, tại UBND xã, Vợ chồng ông D bà L
thừa nhận “ tôi"đã"biết phần"đất"trên"là"của"ông"T,"bà"Đ…xin"được"thuê"lại"để"
kinh"doanh…”;
Cùng ngày 02/12/2009 ông bà T ký hợp đồng cho Vợ chồng ông D bà L thuê
“…một"phần"mặt"tiền"căn"nhà"B16/23"…10m"trở"đi"tính"từ"vách"căn"nhà"B16/20"
tức"là"một"phần"của"thửa"440,"442"thuộc"tờ"bản"đồ"số"10,"xã"B,"huyện"B … hạn"
thuê"từ"02/12/2009"đến"ngày"02/6/2010"”, phần diện tích thuê sử dụng trong phạm
vi 60,7m2/91,7m2.
Tại Công văn số 67/BC-TNMT-PC ngày 10/01/2016 của Phòng Tài nguyên
và Môi trường, huyện B: nguồn gốc, kê khai, đăng ký, sử dụng phần đất đang
tranh chấp giữa ông Cao Trần T, bà Nguyễn Thị Anh Đ với ông Nguyễn Văn D có
nội dung như sau:
“ Đăng"ký"kê"khai"quyền"sử"dụng"đất"(Theo"tài"liệu"299):"
Thửa"440,"tờ"bản"đồ"số"10,"diện"tích"124.601m2,"loại"đất"là"Thổ"tập"trung"(vẽ"
1"thửa"mà"nhiều"chủ"sử"dụng)"không"ghi"tên"chủ"sử"dụng,"được"thể"hiện"tại"trang"
41,"quyển"số"01"sổ"mục"kê."
Đăng"ký"kê"khai"quyền"sử"dụng"đất""(theo"tài"liệu"02/CT-UB):"
Thửa"440,"tờ"bản"đồ"số"10,"diện"tích"880m2,"loại"đất":"Ao,"ông"Cao"Trần"T"
đứng" tên" (thể" hiện" tại" sổ" mục" kê" đất" tài" liệu" 02/CT-UB)" chưa" được" cấp" Giấy"
chứng"nhận"quyền"sử"dụng"đất.""
Thửa"442,"tờ"bản"đồ"số"10,"diện"tích"7.200m2,"loại"đất:"Thổ"tập"trung,"không"
thể"hiện"tên"chủ"sử"dụng"đất."Vì"thửa"này"vẽ"bản"đồ"đo"bao"khu"thổ"cư"(một"thửa"
có"nhiều"chủ"sử"dụng)…”!
Tại kết quả xác nhận quá trình kê khai, sử dụng đất của UBND xã B ngày
19/01/2016 có nội dung như sau:
“ Theo"sổ"mục"kê"đất"của"tài"liệu"02/CT-UB,"ông"Cao"Trần"T"có"tên"tại"thửa"
440"tờ"bản"đồ"số"10,"diện"tích"880m2"loại:"Ao,"thửa"441"tờ"bản"đồ"số"10,"diện"tích"
128m2"loại:"Thổ,"còn"thửa"442"tờ"bản"đồ"số"10,"diện"tích"của"thửa"này"là"7.200m2" loại"thổ"tập"trung,"trong"sổ"mục"kê"không"có"thể"hiện"tên"của"một"chủ"sử"dụng"nào" cả."Lý"do:"Vì"tại"thửa"442"tờ"10"có"nhiều"nhà"và"nhiều"chủ"sử"dụng."
Tuy"nhiên"theo"bản"đồ"hiện"trạng"vị"trí"số"hợp"đồng"106537/ĐĐBĐ-VPTP"
ngày" 30/10/2009" và" bản" đồ" hiện" trạng" vị" trí" số" hợp" đồng" 10155/ĐĐBĐ-VPTP" ngày"20/01/2015"cùng"do"Trung"tâm"đo"đạc"bản"đồ"Thành"phố"lập"thì"bà"Huỳnh" Thị"Đ"và"ông"Cao"Trần"T"có"sử"dụng"tại"thửa"442"tờ"bản"đồ"số"10"(tài"liệu"02/CT-UB).”
So sánh với bản vẽ số 10809/ĐĐBĐ – VPTP ngày 15/4/2016 với bản vẽ
10155/ ĐĐBĐ – VPTP ngày 20/ 01/ 2015, bản vẽ số 106537/ĐĐBĐ-VPTP ngày 30/ 10/ 2009, thì diện tích thuộc thửa 440-1, - 3, thửa 442-1, tờ bản đồ số 10, xã B, huyện B, Tp.HCM (theo tài liệu 02/CT-UB), đo đạc mới ngày 15/ 4/ 2016 có tổng diện tích 91,7m2, đều do ông Cao Trần T, bà Huỳnh Thị Anh Đ đăng ký và sử dụng và không vi phạm lộ giới nên có cơ sở công nhận phần đất này cho ông T, bà Đ tại điểm d khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013.
Thực tế khi hết hạn thuê, vợ chồng ông D vẫn tiếp tục sử dụng và cho ông
Trần Nhật T thuê lại bằng hợp đồng không công chứng, hạn thuê từ ngày 15/4/2014 đến ngày 15/4/2016, với giá từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng và sau đó hợp đồng hết hạn thuê thì ông T vẫn tiếp tục thuê đất của ông D. Ông bà T tranh chấp quyền sử dụng đất thì ông T – công ty cũng không có ý kiến tranh chấp nhà đất này, nên ghi nhận (BL 115 – 119, 306).
Do đó buộc ông D, bà L và những người đang sử dụng đất phải tháo dỡ vật
kiến trúc trên đất và trả mặt bằng 60,7m2.
2.2.!Ông!T,!bà!Đ!yêu!cầu!ông!D,!bà!L!có!trách!nhiệm!trả!lại!cho!ông!bà!
khoản!tiền!còn!nợ!và!lợi!tức!từ!việc!cho!thuê!lại!nhà,!đất.
Như phân tích ở mục 2.1. yêu cầu của ông T, bà Đ có cơ sở chấp nhận. cụ
thể:
Từ ngày 02/6/2010 đến ngày 02/5/2014 (47 tháng): 5.000.000 đồng x 47
tháng = 235.000.000 đồng (căn cứ theo hợp đồng thuê đất ngày 02/12/2010 giữa ông D, bà L với ông T, bà Đ).
Từ ngày 02/5/2014 đến ngày 16/8/2018: 12.000.000 đồng x 51,5 tháng x 1/3
= 206.000.000 đồng (tương đương với 1/3 số tiền ông D, bà L cho công ty Thành Công thuê đất).
Phần đất tại vị trí số 2, 3, 6 của bản vẽ ngày 15/ 4/ 2016, thì ông bà T đã bị
thu hồi, nhận tiền bồi thường xong, rút lại yêu cầu khởi kiện, nên cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử là đúng.
Án sơ thẩm xử, có căn cứ.
Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
[3].!Về!án!phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận
nên bị đơn phải án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 và Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Cụ thể, ông D
và bà L chịu 21.840.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm .
Về chi phí tố tụng: Ông T, bà Đ đã nộp chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại
chỗ và chi phí định giá với tổng số tiền 6.631.150 đồng (sáu triệu sáu trăm ba
mươi ngàn một trăm năm mươi đồng) nên ông D, bà L có trách nhiệm hoàn trả lại
cho ông T, bà Đ số tiền nêu trên.
Án phí dân sự phúc thẩm: người kháng cáo phải chịu 300.000 đồng, theo quy
định tại khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Cùng các Điều luật đã viện dẫn;
Xử:!!
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cao Trần T và bà Huỳnh Thị
Anh Đ.
1.1. Công nhận phần đất có diện tích 91,7m2 (tại vị trí 1, 4, 5 bảng ghi chú
diện tích) thuộc một phần thửa 440, 442, tờ bản đồ số 10 (theo tài liệu 02/CT-UB)
nay thuộc thửa 215, tờ bản đồ số 123 tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí
Minh theo bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 15/4/2016 là của ông
Cao Trần T và bà Huỳnh Thị Anh Đ.
1.2. Buộc ông Nguyễn Anh D, bà Nguyễn Kim L và những người đang sử
dụng đất, có trách nhiệm tháo dỡ di dời công trình, vật kiến trúc trên phần đất có
diện tích 60,7m2 thuộc một phần thửa 440, 442, tờ bản đồ số 10 (theo tài liệu
02/CT-UB), tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vị trí số 1 Bảng
ghi chú diện tích) theo bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc
Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 15/4/2016, để trả
lại quyền sử dụng đất cho ông Cao Trần T, bà Huỳnh Thị Anh Đ.
1.3. Buộc ông Nguyễn Anh D, bà Nguyễn Kim L phải hoàn trả cho ông Cao
Trần T, bà Huỳnh Thị Anh Đ tiền lợi tức từ việc lấn chiếm sử dụng và cho thuê lại
đất của ông T, bà Đ với tổng số tiền 441.000.000 đồng (bốn trăm bốn mươi mốt
triệu đồng) theo phương thức trả 01 lần, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
1.4. Đình chỉ yêu cầu khởi của ông T và bà Đ về việc tiếp tục được sử dụng
phần đất có diện tích 130,5m2 (tại vị trí 2, 3 bảng ghi chú diện tích) của bản vẽ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 15/4/2016.
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
2.1. Ông Nguyễn Anh D, bà Nguyễn Kim L nộp 21.840.000 đồng (hai mươi
mốt triệu tám trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và ông Nguyễn Anh D nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm. Cấn trừ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông D đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0005836 ngày 28/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Hoàn lại cho ông T, bà Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.600.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0009261 ngày 02/11/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
2.2. Ông D, bà L có trách nhiệm hoàn trả cho ông T và bà Đ chi phí đo vẽ,
xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá với tổng số tiền 6.631.150 đồng (sáu triệu sáu trăm ba mươi ngàn một trăm năm mươi đồng) theo phương thức trả 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Án xử phúc thẩm công khai, có hiệu lực thi hành.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - TAND cấp cao tại TPHCM; - VKSND cấp cao tại TPHCM; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS quận B; - TAND quận B ; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. ! !!!!!!!!!!!!!!!! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !!! ! ! ! ! ! ! | !!!!!!!!!!!!!TM!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! !!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! !!!!!!!!!!!!!Nguyễn!Minh!Hiếu! ! ! ! !!!!!!!!!!!!!!! |