- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – bà Lê Thị L:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1170/2018/HNGĐ-ST Ngày: 27/6/2018 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Cẩm Vân
2. Bà Nguyễn Thị Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Lan Phương là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Hoàng Anh – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1884/2017/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2017 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2018/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị L; cư trú tại: Đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố H.
Bị đơn: Ông Ngô T; cư trú tại: Đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/9/2017, bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, nguyên đơn là bà Lê Thị L trình bày: Bà và ông Ngô T kết hôn năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2012, quyển số 01/2012 ngày 23/4/2012. Ông bà chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T thường xuyên bỏ nhà đi chơi qua đêm, không quan tâm tới gia đình, con cái. Dù bà và gia đình đã cố gắng khuyên can nhưng ông T không sửa đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Từ tháng 6 năm 2016 đến nay, ông T bỏ nhà đi, không biết đi đâu, chỉ thi thoảng ghé về thăm mẹ ruột. Trong suốt thời gian này, ông T không liên hệ với bà và không quan tâm chăm sóc con. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm và không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Ngô N sinh ngày 31/10/2012 và Ngô P sinh ngày 26/8/2016, hiện đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Ngô T đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến. Vì vậy, Toà án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Đại diện VKSND quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Ngoại trừ việc vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Việc bị đơn không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn, không quan tâm tới tình trạng hôn nhân của mình cho thấy các đương sự đã có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. [2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 277, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. [3]. Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, thấy căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 36/2012, quyển số 01/2012 ngày 23/4/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố H cấp thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị L và ông Ngô T là hợp pháp. Trong quá trình Tòa giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa để tham gia các phiên hòa giải, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn. Điều đó chứng tỏ bị đơn không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng và xây dựng hạnh phúc gia đình. Theo lời khai của nguyên đơn và kết quả cung cấp chứng cứ của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố H thì từ tháng 6 năm 2016 đến nay, bị đơn đi khỏi nơi cư trú, không biết đi đâu. Việc bị đơn không chung sống với nguyên đơn là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật Hồn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Xét, mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Ngô N sinh ngày 31/10/2012 và Ngô P sinh ngày 26/8/2016 hiện đang do nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn đã bỏ đi nơi khác sinh sống nên việc giao các con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi là phù hợp. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 131, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – bà Lê Thị L:
- Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị L được ly hôn với ông Ngô T.
- Về con chung: Giao cho bà Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục hai trẻ Ngô N sinh ngày 31/10/2012 và Ngô P sinh ngày 26/8/2016. Bà Lê Thị L không yêu cầu ông Ngô T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi có căn cứ, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng bà Lê Thị L phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002937 ngày 19/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ án phí sơ thẩm. 3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. 4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; - VKSND Q.Bình Thạnh ; - Chi cục THADS Q.Bình Thạnh; - UBND phường A, quận B, Tp.H - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh |