- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn Thoa - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 19…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ______________ Bản án số:117/HSST Ngày 19/4/2018 Vụ:Vì Văn T – Phạm tội Tàng trữ, mua bỏn trỏi phộp chất ma tỳy. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Sỹ Khả.
Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Cúc, ông Nguyễn Văn Sâm.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2018, Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 121/2018/HSST, ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Vì Văn T, sinh năm 1980.
HKTT: Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn la.
Chỗ ở: Khu D, phường P, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vì Văn È (đã chết); Con bà Vì Thị P, sinh năm 1952. Bị cáo có vợ là Hoàng Thị X, sinh năm 1978, có 2 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2017 đến nay. (có mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1970.
HKTT: Xóm S, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Chỗ ở: Thôn D, Phong Khê, TP Bắc Ninh (vắng mặt)
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Sáng ngày 15/12/2017 Nguyễn Văn N có gọi điện cho Vì Văn T mục đích mua ma túy về sử dụng nhưng T không nghe máy, sau đó Hoàng Thị Th là vợ của N có lấy điện thoại do Nhất vừa gọi, gọi lại cho T và nói bán cho chị 01 tép, T nhất trí và hẹn Th ra cổng trường trung học sơ sở Dương ổ, Phong khê. Khoảng 8 giờ cùng ngày T điều khiển xe máy mang ma túy ra chỗ hẹn, khi T đang đứng đợi Th thì tổ công tác công an phường Phong Khê, thành phố Bắc Ninh thấy có nghi nghờ, qua kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác phía trước bên phải của T thu 01 túi nilon màu trắng, trong có 03 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu M1. Thu tại túi quần phía sau bên phải 02 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trằng, được niêm phong ký hiệu M2.
Tại bản kết luận định giá số 56/KLGĐ ngày 15/12/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã kết luận:
Chất bột màu trắng trong phong bì thư ký hiệu M1 có trọng lượng 0,1505 gam là ma túy, chất Heroin.
Chất bột màu trắng bên trong phong bì ký hiệu M2 có trọng lượng 0,0576 gam là ma túy, loại ma túy: chất heroin.
Với hành vi trên, tại bản cáo trạng số 37/CTr-VKS ngày 26/3/2018 của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Vì Văn T về tội: Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự .
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố về tội mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người đúng tội, không oan sai và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Các nhân chứng trình bày: Khoảng 8 giờ ngày 15/12/2017, các anh đi đến cổng trường trung học cơ sở Dương ổ, Phong Khê thì thấy các anh công an kiểm tra đối tượng, thu giữ tại túi trong túi áo khoác phía trước bên phải của T thu 01 túi nilon màu trắng, trong có 03 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Thu tại túi quần phía sau bên phải 02 gói giấy màu vằng bên trong có chứa chất bột màu trắng, sau đó niêm phong tang vật, có chữ ký của đối tượng bị bắt và các nhân chứng rồi đưa về trụ sở công an phường làm việc.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố Vì Văn T phạm tội mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy. áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù; Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu xung công quĩ nhà nước 01 điện thoại di động của T, trả lại anh Nhất 01 điện thoại di động màu xanh. Trả lại bị cáo 01 xe máy Win nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
XÉT THẤY
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với tang vật đã thu hồi được và các chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 15/12/2018 tại cổng trường học cơ sở khu Dương ổ, phường Phong Khê, TP Bắc Ninh, Vì Văn T có hành vi tàng trữ 0,281 gam heroin mục đích sử dụng cho bản thân, khi có ai mua thì bán, trong khi bị cáo mang ma túy bán cho chị Thịnh, chưa kịp bán thì bị công an bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy được qui định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng như trên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố bị cáo tội ghép về tội mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy, xét thấy vì bị cáo bị thu ma túy trên người trong cùng một lúc, ý thức của bị cáo mua ma túy để dùng cho bản thân và bán, vậy bị cáo có hành vi tàng trữ thì mới có hành vi mua bán, do vậy hành vi tàng trữ được hút về tội mua bán trái phép chất ma túy.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma tuý cũng là nguyên nhân phát triển các tội phạm hình sự khác. Hơn nữa, việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Vậy cần có hình phạt thật nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, sau khi bị bắt đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng cho bị cáo được qui định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS. Vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Số ma túy sau giám định là vật không được sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc xe máy Win biển kiểm soát 26F2-8153 có đăng ký mang tên Nguyễn Mạnh C là tài sản hợp pháp của bị cáo, cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Chiếc điện thoại 1202 màu xanh đã qua sử dụng là công cụ phương tiện liên lạc để mua bán ma túy do vậy cần tịch thu xung công quĩ nhà nước. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nokia 1500 màu xanh đã qua sử dụng là của Nhất cần trả lại.
Nguồn gốc số ma túy trên bị cáo khai của một người không quen biết tại Giếng Rồng thuộc khu Dương ổ, cơ quan điều tra chưa làm rõ được, vậy kiến nghị Công an thành phố Bắc Ninh tiếp tục làm rõ và xử lý sau.
Trong vụ án có anh N, chị Th là người đã gọi điện cho T để mua ma túy, mục đích để sử dụng, tuy nhiên anh N chị Th chưa tàng trữ ma túy, hành vi đó chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do vậy cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo, anh N thừa nhận trước hành vi bị bắt này, hai bên có mua bán ma túy với nhau, tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận, cơ quan điều tra không thu hồi được tang vật, vậy kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ và xử lý sau.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, có hoàn cảnh khó khăn do vậy miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 1,3 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Khúa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.
Xử phạt: Vì Văn T 28 (hai mươi tám) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2017.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 19/4/2018 để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì mẫu vật còn lại sau giám định.
Trả lại bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu Win, biển kiểm soát 26F2-8513 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu xung công quĩ nhà nước 01 điện thoại di dộng 1202 màu xanh là của bị cáo.
Trả lại anh Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động 1500 màu xanh đã qua sử dụng.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Bắc Ninh; - Công an TP. Bắc Ninh; - Chi cục THADS TP. Bắc Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Chủ toạ phiên tòa |