vanban.org

Bản án 117/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mai L đối với ông Nguyễn Thanh H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai Ly kiện bị đơn ông Nguyễn Thanh Hùng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/HNGĐ-ST
Ngày 05/8/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Yến Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Trường

2. Ông Vũ Văn Chương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Lương Ngọc Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai L, sinh năm 1984, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

Địa chỉ: Số A đường C (V), phường A, thành phố V, tỉnh B.

+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh H, sinh năm 1984, vắng mặt;

Địa chỉ: Số A đường C (V), phường A, thành phố V, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai L trình bày:

Ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị Mai L tự nguyện chung sống từ năm 2016, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 50/2016 ngày 01/9/2016.

Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó từ cuối năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mặc dù ông bà có tìm biện pháp khắc phục nhưng không đạt kết quả, mức độ mâu thuẫn ngày càng gia tăng dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn yêu thương, phụ thuộc lẫn nhau và sống ly thân từ tháng 01/2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 01 con là Nguyễn Thanh M, sinh ngày 28/02/2017, theo nguyện vọng của con yêu cầu sống với mẹ, bà L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh H:

Tòa án tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông H vẫn vắng mặt nên Tòa án không thu thập được ý kiến trình bày của ông H. Theo xác nhận của Công an phường A, thành phố V trước đây ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị Mai L, sinh năm 1984 có thực tế cư trú, sinh sống cùng nhau tại địa chỉ số A đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật đã vắng mặt tại phiên tòa ngày 17/7/2024, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đang cư trú tại thành phố V nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa xét xử lần hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị Mai L tự nguyện chung sống từ năm 2016 được UBND phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50/2016 ngày 01/9/2016.

Qua thời gian chung sống giữa hai ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Kết quả xác minh tại địa phương xác định vợ chồng bà L, ông H có xảy ra mâu thuẫn, hiện nay các bên không còn chung sống với nhau. Tòa án tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông H vẫn vắng mặt, có ý thức bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà L, ông H đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài, không có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Vì vậy yêu cầu của bà L xin ly hôn là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Thanh M, sinh ngày 28/02/2017, xét nguyện vọng cháu M yêu cầu sống với mẹ nên cần giao con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên công nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Do bà L là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H không phải chịu án phí.

. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mai L đối với ông Nguyễn Thanh H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh H.

2. Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Thanh M, sinh ngày 28/02/2017, theo nguyện vọng của con, bà Nguyễn Thị Mai L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh M đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Mai L về việc không yêu cầu ông Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mai L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mai L phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000021 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Như vậy, bà Nguyễn Thị Mai L đã nộp xong án phí. Ông Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

6. Về quyền yêu cầu thi hành: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ