- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Văn D - Hồng H_Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Tố tụng Hành chính; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2026/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 8 - 2026 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Xuân Phi và bà Hứa Thị Mây Sum.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Nguyễn Minh Thu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Khánh Hòa tham gia phiên toà: ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2026/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2026 về “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2026/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Khánh Hoà, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn D. - sinh năm 1979 (yêu cầu vắng mặt);
Địa chỉ: thôn Lạc Nghiệp 2, xã Cà Ná, tỉnh Khánh Hòa.
2. Bị đơn: chị Võ Thị Hồng H. - sinh năm 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: thôn A, xã B, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn D. trình bày:
Anh và chị Võ Thị Hồng H. sống chung đời sống vợ chồng từ năm 2008, tự nguyện tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn ngày 21/3/2011 tại UBND xã Cà Ná. Anh và chị H. có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Hồng P., sinh ngày 10/01/2009 và Nguyễn Thị Uyên N., sinh ngày 20/10/2011, hiện đang sống chung với anh. Quá trình sống chung không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn: Bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp về tình cảm vợ chồng. Anh và chị H. không còn sống chung từ năm 2016 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu ly hôn chị Võ Thị Hồng H.. Về con chung: Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung nêu trên. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bận công việc nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt tại tất cả các giai đoạn tố tụng trong vụ án này.
Quá trình tố tụng bị đơn chị Võ Thị Hồng H. đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án nhưng vắng mặt không có lý do, không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cho Tòa án.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D.. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn D. khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn chị Võ Thị Hồng H., yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, đây là vụ án về Hôn nhân và gia đình về “Ly hôn; Tranh chấp về nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị Võ Thị Hồng H. cư trú tại thôn Lạc Nghiệp 2, xã Cà Ná, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Khánh Hòa.
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh D. có yêu cầu giải quyết vắng mặt; Bị đơn chị H. đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh D. và chị H..
. Về nội dung vụ án:
. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2011 ngày 21/3/2011 của UBND xã Cà Ná (BL 03), thể hiện: anh D. và chị H. ngày 21/3/2011 tại UBND xã Cà Ná. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa anh D. và chị H. là hợp pháp, thời điểm kết hôn vào ngày 21/3/2011, có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Quá trình chung sống vợ chồng: Căn cứ lời khai của anh D. và Biên bản xác minh ngày 11/5/2026 (BL 16), đủ cơ sở xác định: Vợ chồng anh D. và chị H. đã không còn chung sống với nhau từ năm 2016 đến nay và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau từ đó đến nay. chị H. đã bỏ đi khỏi địa phương, thỉnh thoảng có về địa phương nhưng không rõ thời điểm trở về. Quá trình giải quyết vụ án, anh D. yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, chị H. cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh D., điều này chứng tỏ các bên không có thiện chí hòa giải hàn gắn nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh D. và chị H. đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh D. yêu cầu ly hôn chị H. là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: anh D. yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là: Nguyễn Thị Hồng P., sinh ngày 10/01/2009 và Nguyễn Thị Uyên N., sinh ngày 20/10/2011 và không yêu cầu chị H. cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay các con chung đang sống chung với anh D. và cháu có nguyện vọng sống với anh D.. chị H. cũng không có ý kiến đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh D. trong vụ án này. Do đó, việc chăm sóc, giáo dục con của anh D. sẽ tốt hơn cho sự phát triển bình thường và nguyện vọng của các cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Phúc và cháu Như cho anh D. trực tiếp nuôi dưỡng. Do anh D. không yêu cầu chị H. cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn anh D. phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các điều 28, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Điều 39 Bộ luật Dân sự; Các điều 8, 9, 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn D. được ly hôn chị Võ Thị Hồng H..
2. Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn D. trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Thị Hồng P., sinh ngày 10/01/2009 và Nguyễn Thị Uyên N., sinh ngày 20/10/2011. anh D. không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: anh Nguyễn Văn D. phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà anh D. đã nộp theo Biên lai thu số 0002120 ngày 25/3/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Khánh Hòa. anh D. đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tống đạt được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 8 - Khánh Hòa; - THADS tỉnh Khánh Hòa; - UBND xã Cà Ná; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quốc Tâm |