vanban.org

Bản án 117/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị H.

Về hôn nhân: Cho Chị Trần Thị H ly hôn với Anh Mạch Văn N. Về con chung: Giao 01 con chung tên Mạch Thị Thanh X, sinh ngày 12/4/2008 cho Anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do Anh N không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hieu ngoc"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/5/2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Trần Xuân Văn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Bảo Nguyên.

Ông Nguyễn Văn Hòa.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hiển, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 1984 (vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Mạch Văn N, sinh năm: 1978 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Trần Thị H trình bày: Chị và Anh Mạch Văn N do quen biết nên tiến tới hôn nhân vào năm 2004, hôn nhân xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường 5, quận 3, thành phố H. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng kể từ năm 2022 đến nay, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng trong quan điểm sống. Hai bên đã ly thân thời gian dài không hàn gắn đoàn tụ được. Chị H nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với Anh N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Mạch Thị Thanh X, sinh ngày 12/4/2008 hiện đang do Chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn Chị H yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu Anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Chị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa Chị Trần Thị H và Anh Mạch Văn N là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Trần Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh Mạch Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt Chị H và Anh N.

Về hôn nhân: Xét thấy, mặc dù hôn nhân giữa Chị Trần Thị H và Anh Mạch Văn N là hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01 ngày 07/12/2005 tại UBND phường 5, quận 3, thành phố H. Tuy nhiên, hiện tại hai bên đã sống ly thân thời gian dài, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Đối với Anh N, từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, anh không đến dự theo giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do chính đáng và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn mà Chị H đưa ra. Điều này chứng tỏ anh không có thiện chí hàn gắn đối với cuộc hôn nhân này. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Trần Thị H.

Về con chung: Cháu Mạch Thị Thanh X hiện đang sống với Anh N, bản thân anh có nơi ở và công việc thu nhập ổn định, đủ khả năng chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Cháu X cũng có tờ khai trình bày nguyện vọng muốn sống cùng Anh N. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về thể chất, học hành, sự phát triển về tinh thần, cũng như các quyền lợi khác của con chung. Giao cháu X cho Anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do Anh N không yêu cầu.

Về tài sản chung: không có;

Nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị H.

1. Về hôn nhân: Cho Chị Trần Thị H ly hôn với Anh Mạch Văn N.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Mạch Thị Thanh X, sinh ngày 12/4/2008 cho Anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con do Anh N không yêu cầu.

Chị Trần Thị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung: không có.

Nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016599 ngày 03/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên xem như đã thi hành xong.

5. Chị Trần Thị H và Anh Mạch Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tai các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ