vanban.org

Bản án 117/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội "Gi t người".

X phạt bị cáo Nguyễn Duy T 10 (mười năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 20 tháng 4 năm 2023. Về trách nhiệm dân s : áp dụng các điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân s 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội "Gi t người".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình s; Điều 123 Bộ luật Hình s; Điều 15 Bộ luật Hình s
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-PT
Ngày: 09 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường

Các Thẩm phán:

ông Phạm Ngọc Thái

ông Đinh Phước Hoà

- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Vào ngày 09 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần: trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng x t x ph c thẩm tr c tuy n công khai vụ án hình s thụ lý số 60/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Gi t người”.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình s s thẩm số 129/2023/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Theo Quy t định đưa vụ án ra x t x số 453/2024/QĐXXPT-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024.

1. Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Duy T (tên gọi khác: Cao T1 , sinh ngày 16 tháng 7 năm 1985 tại tỉnh Đắk Lắk; n i cư tr : tổ dân phố C, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: nam; trình độ văn hoá: 5/12; nghề nghiệp: làm nông; con ông Nguyễn B và con bà Đoàn Thị Bạch H; bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Thùy L và có 03 con, con lớn sinh năm 2013 và con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền s : không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20 tháng 4 năm 2023, có mặt tại phiên tòa.

2. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hà Công B1, Công ty L3; địa chỉ: B Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

3. Bị hại: ông Cao Dũng T2; địa chỉ: TDP C, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: bà Nguyễn Thị Ái L1; địa chỉ: TDP C, phường B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án s thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 12 tháng 4 năm 2023, Nguyễn Duy T (sinh năm 1985 gắn sim điện thoại của mình vào máy điện thoại di động của em trai là Nguyễn Duy Q (sinh năm 1987, tr tại: tổ dân phố C, phường B, thị xã B để s dụng. Do cần tiền nên Q mang điện thoại di động của mình đi cầm cố cho anh Hoàng Đ (sinh năm 1975, tr tại: tổ dân phố D, phường B, thị xã B để mượn tiền mà quên không tháo sim của T ra. Sau đó, anh Đ đưa điện thoại của Q cho anh Cao Dũng T2 (sinh năm 1976, n i cư tr : tổ dân phố C, phường B, thị xã B giữ. Khi bi t việc, T đ n tìm gặp anh T2 để lấy lại sim của mình thì giữa T và anh T2 xảy ra mâu thuẫn dẫn đ n cãi nhau.

Đ n khoảng 17 giờ ngày 19 tháng 4 năm 2023, Nguyễn Duy T ti p tục đ n nhà anh T2 để đòi lại sim điện thoại của mình nhưng anh T2 không có nhà, T dùng một con dao (loại dao Thái Lan, cán nh a màu vàng, dài 22cm, cán dao dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 12cm, rộng 1,8cm mang theo trong người rạch hư tấm bảng thu mua chanh dây của gia đình anh T2. Sau đó T cất dao vào t i quần bên phải rồi đi qua tiệm tạp hóa của chị Cao Thị Hồng V (cách nhà anh T2 một căn nhà để đợi anh T2 về. Khi T đang ngồi trên xe mô tô và nói chuyện với chị Cao Thị Hồng V thì anh T2 đ n, giữa T và anh T2 ti p tục cãi nhau, anh T2 xông đ n dùng tay đánh nhiều cái vào người T. Cùng l c này, Cao Thanh T3 (sinh năm 2001, tr tại: tổ dân phố C, phường B, thị xã B là cháu của anh T2 vừa đi ch i về thấy anh T2 đang đánh T nên cũng xông đ n dùng mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào đầu, người của T nhưng không gây thư ng tích. Thấy vậy, anh Hoàng Vi t C (sinh năm 1979 là hàng xóm của anh T2 đ n ôm anh T2 để can ngăn, anh Cao Hùng T4 (sinh năm 1975 và anh Phạm Đoàn Quốc Đ1 (sinh năm 2003 cùng tr tại tổ dân phố C, phường B, thị xã B cũng ôm T ra để can ngăn. Sau khi anh C buông T2 ra, T2 ti p tục ti n đ n dùng tay đấm vào mặt của T. Do b c tức nên T dùng tay phải r t con dao Thái Lan để trong t i quần, cầm cán dao, lưỡi dao hướng ra sau vung lên ngang mặt đâm một nhát vào mặt anh T2 ở vị trí đứng đối diện làm phần mũi dao đâm tr ng vào vùng cung mày trái của anh T2 và bị cong lệch về phía bên phải, nắm tay cầm dao của T theo đà đập mạnh vào trán của anh T2. Do bị đâm nên anh T2 bỏ chạy về phía nhà của mình. L c này, T nhặt một kh c cây cà phê, thấy vậy anh T4 cầm một cây cuốc và T3 cầm một kh c cây cà phê lao vào đuổi T đi thì T bỏ chạy khỏi hiện trường. Sau đó, anh T2 được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2, còn Nguyễn Duy T đ n Công an phường B, thị xã B để đầu th và khai báo toàn bộ nội dung s việc.

K t luận giám định tổn thư ng c thể qua hồ s số 11/KLTgTHS-PY ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ: xác định tỷ lệ tổn thư ng c thể của Cao Dũng T2 qua hồ s là 44% (bốn mư i bốn phần trăm .

K t luận giám định bổ sung tổn thư ng c thể trên người sống số 268/KLTTCT-PY ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ: xác định tỷ lệ tổn thư ng c thể của Cao Dũng T2 là 92% (chín mư i hai phần trăm . Vật tác động: vật sắc, nhọn và vật tày, cứng (Liệt / người bên phải do di chứng của tổn thư ng não gây nên .

Tại Công văn số 397/CV-TTPY ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ (giải thích K t luận giám định bổ sung tổn thư ng c thể trên người sống số 268/KLTTCT-PY ngày 31 tháng 7 năm 2023 : về bản chất, nắm đấm (các đầu khớp xư ng và xư ng có thể xem là một vật tày, cứng nên vẫn có khả năng gây nên chấn thư ng sọ não của Cao Dũng T2, nhưng khả năng này phụ thuộc nhiều vào vị trí ti p x c, l c tác động... khi tác động vào vùng đầu nạn nhân.

Ngày 01 tháng 11 năm 2023, bị cáo Nguyễn Xuân T5 có Đ n yêu cầu giám định lại thư ng tích bị hại: bị cáo cho rằng không khách quan, không rõ ràng vì lý do Cao Dũng T2 vẫn đi lại, sinh hoạt bình thường, không đ ng theo như K t luận giám định mà bị cáo T5 được bi t qua Bản k t luận điều tra và Cáo trạng.

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có thông báo số 123/TB-VKS-P2: về việc không chấp nhận đề nghị trưng cầu giám định lại của bị cáo Nguyễn Duy T đối với tỷ lệ tổn thư ng c thể do thư ng tích gây nên đối với Cao Dũng T2.

V i nội dung nêu trên tại n án h nh s sơ thẩm s

H T ngà

tháng n m

c a Tòa án nhân dân t nh Đ k k đ qu t đ nh

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội "Gi t người";

Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình s năm 2015.

X phạt bị cáo Nguyễn Duy T 10 (mười năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 20 tháng 4 năm 2023.

[2] Về trách nhiệm dân s : áp dụng các điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân s 2015.

Chấp nhận bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Duy T ti p tục phải bồi thường cho bị hại anh Cao D T2 số tiền còn lại là 450.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đ n khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân s năm 2015.

Dành quyền khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bằng một vụ án dân s khác n u có thiệt hại th c t phát sinh thêm sau thời điểm x t x s thẩm (ngày 18 tháng 12 năm 2023 .

Ngoài ra bản án s thẩm còn quy t định về x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 bị cáo Nguyễn Duy T kháng cáo bản án s thẩm với nội dung: yêu cầu giám định lại thư ng tích đối với bị hại, xin giảm tiền bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Duy T trình bày giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu:

Về tố tụng: kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T là trong thời hạn luật định.

Về nội dung: Toà án cấp s thẩm x t x bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Gi t người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình s là có căn cứ, đ ng tội. Sau khi x t x s thẩm gia đình bị cáo bồi thường ti p 50.000.000đ và tại phiên toà ph c thẩm người đại diện hợp pháp của bị hại thừa nhận. Bị cáo yêu cầu giám định lại thư ng tích đối với bị hại nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh k t luận giám định thư ng tích đối với bị hại là vi phạm tố tụng, không khách quan. Mặc dù bị cáo có tình ti t mới là ti p tục bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, tình ti t mới này là không đáng kể. Do đó, đề nghị Hội đồng x t x không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án s thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: đề nghị Hội đồng x t x áp dụng tình ti t bị cáo bị kích động do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra. Thư ng tích 92% của bị hại là giám định trên hồ s , do vậy đề nghị xem lại. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, do vậy đề nghị Hội đồng x t x xem x t về phần trách nhiệm dân s cho bị cáo. Bị cáo thống nhất.

Bà nguyễn Thị Ái L2 trình bày: thừa nhận sau khi x t x s thẩm gia đình bị cáo bồi thường ti p 50.000.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tranh tụng: bị hại đánh bị cáo trước nhưng chỉ dùng tay tát, nên bị cáo không có gì gọi là bị kích động. H n nữa, do bị hại đánh bị cáo trước nên Toà án cấp s thẩm x t x bị cáo theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình s . K t quả giám định ban đầu là 44% là giám định trên hồ s . Còn k t quả giám định 92% thư ng tích là giám định th c trên người sống, do vậy k t quả này là khách quan. Phần trách nhiệm dân s là chính bị cáo t nguyện bồi thường, nên Toà án cấp s thẩm công nhận s t nguyện này là đ ng pháp luật.

Trên cơ sở nội dung vụ án c n cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ngày 28 tháng 12 năm 2023 bị cáo Nguyễn Duy T kháng cáo Bản án hình s s thẩm số 129/2023/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Như vậy, kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T là trong thời hạn luật định. Do đó, Hội đồng x t x xem x t theo trình t ph c thẩm.

X t kháng cáo của bị cáo:

Về tội danh:

Quá trình điều tra, x t x s thẩm và ph c thẩm bị cáo Nguyễn Duy T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện: vào ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại tổ dân phố C, phường B, thị xã B xuất phát từ mâu thuẫn trong việc đòi lại sim điện thoại nên Nguyễn Duy T đã bị Cao D T2 dùng tay và Cao Thanh T3 dùng mũ bảo hiểm đánh nhiều cái vào người. Sau khi được can ngăn thì T2 ti p tục dùng tay đánh vào mặt bị cáo T. B c tức vì bị đánh nên Nguyễn Duy T đã dùng dao Thái Lan đâm 01 nhát vào vùng cung mày trái trên mặt anh Cao Dũng T2. Hậu quả, anh T2 bị tổn thư ng c thể do thư ng tích gây ra là 92%. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Duy T phù hợp với lời khai của bị cáo tại c quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, k t luận giám định pháp y về thư ng tích và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ s vụ án. Hội đồng x t x ph c thẩm có căn cứ khẳng định: Tòa án cấp s thẩm x t x bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Gi t người” theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình s năm 2015 là có căn cứ, đ ng tội, đ ng pháp luật.

Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy T là nguy hiểm, phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã tr c ti p xâm phạm đ n sức kho của bị hại, gây bất bình trong quần ch ng nhân dân và làm ảnh hưởng xấu đ n trật t trị an, an toàn xã hội ở địa phư ng. Tòa án cấp s thẩm đã đánh giá, nhận định về tính chất, hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và đã áp dụng các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Từ đó x phạt bị cáo Nguyễn Duy T 10 (mười năm tù là có căn cứ, thỏa đáng, không nặng.

Đối với yêu cầu cấp ph c thẩm giám định lại thư ng tích của bị hại, Hội đồng x t x ph c thẩm thấy rằng: quá trình điều tra, Nguyễn Duy T đã có yêu cầu giám định lại và đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk không chấp nhận, lý do: Nguyễn Duy T không chứng minh được k t luận giám định có vi phạm tố tụng, không khách quan. Tại phiên tòa x t x ph c thẩm hôm nay bị cáo Nguyễn Duy T cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh được k t luận giám định thư ng tích của bị hại 92% có vi phạm tố tụng, không khách quan.

Đối với yêu cầu xem x t lại phần trách nhiệm dân s , Hội đồng x t x ph c thẩm thấy rằng: tại phiên toà x t x s thẩm bị cáo t nguyện bồi thường cho bị hại và được Toà án cấp s thẩm ghi nhận. Tại phiên toà x t x ph c thẩm hôm nay, bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại không đồng ý giảm mức bồi thường.

Tại phiên tòa x t x ph c thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy T bồi thường thêm cho bị hại 50.000.000đ sau khi x t x s thẩm và đây là tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình s mới. Tuy nhiên, tình ti t mới này là không đáng kể. Với những nội dung đã được nhận định, phân tích tại các mục [1], [2] nêu trên, Hội đồng x t x ph c thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T, giữ nguyên bản án s thẩm.

Án phí hình s ph c thẩm: bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Các quy t định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình s . Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy T, giữ nguyên bản án s thẩm.

2. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội "Gi t người".

Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình s năm 2015.

X phạt bị cáo Nguyễn Duy T 10 (mười năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 20 tháng 4 năm 2023.

3. Về trách nhiệm dân s : áp dụng các điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật Dân s 2015.

Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Duy T đã bồi thường ti p được 50.000.000 đồng. Do đó, bị cáo Nguyễn Duy T ti p tục phải bồi thường cho bị hại anh Cao D T2 số tiền còn lại là 400.500.000 đồng.

Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đ n khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân s năm 2015.

Dành quyền khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bằng một vụ án dân s khác n u có thiệt hại th c t phát sinh thêm sau thời điểm x t x s thẩm (ngày 18 tháng 12 năm 2023 .

4. Án phí hình s ph c thẩm: bị cáo Nguyễn Duy T phải chịu 200.000đ.

5. Các quy t định khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu l c pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án ph c thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ