- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo M bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1, Điều 173 BLHS (bị cáo nhân thân xấu, giá trị tài sản trộm cắp 27.000.000 đồng) -…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2023/HSST Ngày: 12/6/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.
Bà Đào Thị Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom là điểm cầu trung tâm và Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom là điểm cầu thành phần, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2023/TLST-HS ngày 19/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2023/QĐXXST-HS ngày 25/5/2023 và Thông báo dời lịch ngày 08/6/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn M, sinh năm: 1991 tại tỉnh H.
Hộ khẩu thường trú: 48/59, khu phố 8, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 6/12
Nghề nghiệp: Làm thuê.
Con ông Hà Công T, sinh năm: 1962 (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm: 1961; bị cáo có vợ là chị Phạm Thị Thu D, sinh năm: 1990 và 02 con nhỏ, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 23/02/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử 03 tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/3/2018 (đã được xóa án tích);
Ngày 24/12/2012, bị UBND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong vào ngày 18/5/2015.
Bị giam giữ từ ngày 06/01/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.
Bị hại: Anh Phạm Phú T, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: Số 662A, Quốc lộ 1A, ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(bị cáo có mặt; bị hại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 06/01/2023, Hà Văn M đi bộ từ đường N thuộc xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để về nhà ở phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì M phát hiện phía trước tiệm bán bánh “A” thuộc ấp T, xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, biển số 60B8-761.70 (cắm sẵn chìa khóa trên xe) của anh Phạm Phú T, còn anh Tam đứng cách xe 02m đang quay mặt vào trong nhà để khóa cửa. M lén lút đi đến ngồi lên xe mô tô biển số 60B8-761.70 rồi nổ máy điều khiển xe tẩu thoát thì bị anh Tam phát hiện chạy bộ đuổi theo kéo lại làm M và xe mô tô biển số 60B8-761.70 ngã xuống đường, M bỏ lại xe mô tô biển số 60B8-761.70 chạy bộ về hướng trường Trung học cơ sở H, ấp T, xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì bị anh T đuổi theo truy hô, lúc này có anh Đ là người đi đường đã cùng với anh T bắt giữ M cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen biển số 60B8-761.70, số máy: JF63E-1030506, số khung: 6308FZ030479;
- 01 điện thoại di động hiệu Relme màu xanh đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen biển số 60B8-761.70, số máy: JF63E-1030506, số khung: 6308FZ030479 trị giá 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng).
Tại Cáo trạng số 136/CT-VKS-TB ngày 16/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Hà Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen biển số 60B8-761.70, số máy: JF63E-1030506, số khung: 6308FZ030479 do anh Phạm Phú T làm chủ sở hữu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Relme màu xanh là của bị cáo M làm chủ sở hữu, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo.
Về dân sự: Anh Phạm Phú T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo M mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của bị hại: Đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt và đã có lời khai trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
Về trách nhiệm hình sự:
Vào ngày 06/01/2023, tại ấp T, xã H, huyện Trảng Bom Hà Văn M có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, biển số 60B8-761.70 của anh Phạm Phú T, có trị giá 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng).
Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hà Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương, bị cáo còn có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học lại tiếp tục vi phạm pháp luật nên cần phải xử phạt nghiêm.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại nên căn cứ điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho anh Phạm Phú T 01 xe Honda Airblade màu đen biển số 60B8-761.70 và trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Relme là đúng quy định nên không xem xét thêm.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại xe và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2023.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện, VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục thi hành án huyện; - Bị cáo, bị hại; - Trại tạm giam B5; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hƣơng |