vanban.org

Bản án 117/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Duy T 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo Ngô Duy T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGÔ DUY T +đb - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HS-ST
Ngày: 27/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP , TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông: Lê Hưng Quang

2.Ông: Nguyễn Trọng Di

- Thư ký phiên tòa: Ông Hán Tấn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại tr s T a án nh n d n huyện TP xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 85/2023/HSST, ngày 18 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Ngô Duy T; sinh ngày: 23 tháng 02 năm 2004, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi thường trú và chổ hiện nay: khu phố 08, thị trấn H, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Ngô Văn X1, sinh năm 1974 và bà: Ngô Thị H, sinh năm 1978; Anh, chị, em ruột: 02 người. Lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 1999; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: không.

Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 15/7/2022, bị Chủ tịch UBND thị trấn H, huyện TP ra quyết định số 142/QĐ-XPTT về việc áp d ng biện pháp xử lY hành chính giáo d c tại xã, phường, thị trấn với thời gian 03 tháng về hành vi “Sử d ng trái phép chất ma túy”.

* Quá trình hoạt động nh n th n:

Tại Bản án số 23/2023/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Thuận xử phạt Ngô Duy T 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo hiện đang chấp hành án tại trại giam Xuân Lộc-tỉnh Đồng Nai trong v án khác; Bị cáo có mặt tại phiên t a.

2. Lê Trung Y; sinh ngày: 16 tháng 3 năm 2003, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi thường trú và chổ hiện nay: khu phố 6, thị trấn H, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Lê Trung S, sinh năm 1973 và bà Huỳnh Thị Kim A, sinh năm 1980; Anh, chị, em ruột: 04 người. Lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2010; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 29/12/2021, bị Chủ tịch UBND thị trấn H , huyện TP ra quyết định số: 561/QĐ-XPTT về việc áp d ng biện pháp xử lý hành chính giáo d c tại xã, phường, thị trấn với thời gian 03 tháng về hành vi “Sử d ng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 29/3/2022.

Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Bị cáo có mặt tại phiên t a.

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1997.

Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn H, huyện TP, tỉnh Bình Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Lê Văn N, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn H, huyện TP, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

2. Lê Thị Hồng Â, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn H, huyện TP, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Duy T thường xuyên đi c u cá ngang qua nhà Nguyễn Thị Kim X trú tại khu phố 5, thị trấn H, huyện TP và quan sát thấy nhà của X có 01 chiếc xe đạp điện để bên trong s n nhà nên T nảy sinh ý định trộm cắp xe đạp điện để bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng rạng sáng ngày 20 tháng 4 năm 2023, Ngô Duy T liên lạc với Lê Trung Y và rủ Y đi trộm cắp tài sản, Y đồng ý. T dùng xe đạp điện ch Y đi đến nhà của Nguyễn Thị Kim X nhìn thấy cổng nhà X đã bị khóa, bên trong s n nhà có để xe đạp điện không có người trông coi. T phân công cho Y đứng bên ngoài m c đích để cảnh giới, riêng T lén lút bí mật đi đến dùng tay giật mạnh chốt cửa cổng trước bung ra và m cửa đi vào bên trong s n nhà dẫn xe đạp điện nhãn hiệu SPEED HONDANA VIP màu đỏ-đen ra bên ngoài. Sau đó T cùng với Y điều khiển xe đạp điện đi về nhà T cất giấu. Đến sáng ngày 20 tháng 4 năm 2023, T và Y điều khiển xe đạp điện trộm cắp được đi tìm chỗ để bán lấy tiền tiêu xài thì bị Lê Văn N (chồng của X) phát hiện.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 12/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TP, kết luận:

01 chiếc xe đạp điện hiệu SPEED HONDANA VIP màu đỏ đen; Giá trị tài sản định giá: 8.800.000 đồng/chiếc x 50% = 4.400.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

Như vậy, các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y đã cùng nhau trộm cắp tài sản là 01 xe đạp điện hiệu SPEED HONDANA VIP có trị giá: 4.400.000đồng.

* Vật chứng vụ án: Sau khi định giá tài sản, ngày 15 tháng 5 năm 2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP đã trả lại 01 chiếc xe đạp điện hiệu SPEED HONDANA VIP màu đỏ-đen cho người bị hại Nguyễn Thị Kim X.

* Tại Cáo trạng số 99/CT-VKSTP-HS ngày 17/8/2023 của Viện ki m sát nhân dân huyện TP truy tố các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- kiến của đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện TP vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng 99/CT-VKSTP-HS ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nh n d n huyện TP .

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Áp d ng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Duy T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo Ngô Duy T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp d ng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Trung Y mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

- Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng với hành vi các bị cáo thực hiện và không tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra c ng như tại phiên t a, các bị cáo và những người tham gia tố t ng khác không có kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên t a, các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 99/CT-VKSTP-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nh n d n huyện TP đã truy tố. Các bị cáo kh ng định những lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, các bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên t a phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại c ng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.

Như vậy, có đủ cơ s kết luận đ y là v án “Trộm cắp tài sản” xảy ra vào rạng sáng ngày 20 tháng 4 năm 2023 tại khu phố 05, thị trấn H, huyện TP, tỉnh Bình Thuận do Ngô Duy T và Lê Trung Y đã lén lút bí mật lấy trộm 01 xe đạp điện hiệu SPEED HONDANA VIP màu đỏ-đen có tổng trị giá 4.400.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim X nhằm m c đích để bán lấy tiền tiêu xài thì bị phát hiện bắt giữ.

Vì vậy, Cáo trạng số 99/CT-VKSTP-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nh n d n huyện TP đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3 Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Các bị cáo là công d n có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vì bản tính tham lam, các bị cáo đã lợi d ng sự mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của bị hại để chiếm đoạt nhằm để bán lấy tiền tiêu xài. Các bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp đã x m hại tới quyền s hữu tài sản hợp pháp của người khác đồng thời gây ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo d c và ph ng ngừa chung.

Đ y là v án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y đều cùng thống nhất ý chí đi trộm cắp tài sản m c đích để bán kiếm tiền tiêu xài cá nh n nên bị cáo T và bị cáo Y phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với toàn bộ hành vi và hậu quả g y ra. Trong đó, bị cáo Ngô Duy T là người kh i xướng và là người trực tiếp thực hiện hành vi nên cần xử phạt bị cáo Ngô Duy T với mức hình phạt cao hơn so với bị cáo Lê Trung Y với vai trò là người giúp sức.

4 Các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y đều có nh n th n xấu, từng bị áp d ng biện pháp xử lý hành chính giáo d c tại xã, phường, thị trấn với thời gian 03 tháng về hành vi sử d ng trái phép chất ma túy. Riêng bị cáo Ngô Duy T còn bị Tòa án nhân dân huyện TP xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (theo Bản án số 23/2023/HSST ngày 22/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện TP).

- Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên t a các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y đã thành khẩn khai báo; bị hại có đơn xin giảm nh hình phạt cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) cần được áp d ng cho các bị cáo.

Riêng bị cáo Lê Trung Y phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp d ng thêm tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trên cơ s cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tặng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nh n th n của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm để giáo d c các bị cáo có thời gian r n luyện bản th n tr thành công dân có ích cho xã hội.

[5 Về xử l vật chứng: Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại Nguyễn Thị Kim X 01 chiếc xe đạp điện có dán chữ SPEED HONDANA VIP màu đỏ-đen theo quy định pháp luật.

[6 Về trách nhiệm bồi thường d n sự:

Người bị hại Nguyễn Thị Kim X đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7 Về Y kiến của đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện TP:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tại phiên t a về tội danh, điều luật áp d ng, mức hình phạt đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo đã g y ra nên được chấp nhận.

[8 Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9 Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Duy T và Lê Trung Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Ngô Duy T 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2023/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo Ngô Duy T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Trung Y 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

[2] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lY và sử d ng án phí và lệ phí T a án.

Buộc bị cáo Ngô Duy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Lê Trung Y phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên t a có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ