- Tranh chấp gì? án hình sự — "gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Mai Lê T, Bùi Tá X, Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 117/2023/HS-ST Ngày: 14/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Yến Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Huỳnh Văn Sơn
2.Ông Nguyễn Văn Hồi
- Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt, Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình, Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại Phòng xử án Hình sự, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/MAI LÊ T Sinh năm: 1996; Tại: TP.HCM;
Thƣờng trú: 24/14 Thống Nhất, phƣờng 13, quận Gò Vấp, TP.HCM; Giới tính: Nam; Nghề C: Nhân viên văn phòng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Sơn Ngọc Sinh năm: 1965 và bà Lê Thị Kim Hòa Sinh năm: 1967; Anh chị em: 03 ngƣời, bị cáo là con đầu. Vợ: Trịnh Thị Ngọc H Sinh năm: 1998; Bị cáo có 02 con: lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/8/2022, đến ngày 10/01/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lnh “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
2/BÙI TÁ X Sinh năm: 1995; Tại: TP.HCM;
Thƣờng trú: Thôn Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Tạm trú: 481/9/13 Hiệp Thành 17, khu phố 2, phƣờng Hiệp Thành, Quận 12, TP.HCM; Giới tính: Nam; Nghề C: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Tá B Sinh năm: 1972 và Dƣơng Thị Kim H Sinh năm: 1973; Anh chị em: 02 ngƣời, bị cáo là con út. Vợ: Lƣu Thị Mỹ Y Sinh năm: 1998; Bị cáo có 02 con: Lớn nhất sinh năm 2019 và nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/8/2022, đến ngày 10/01/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lnh “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
3/LƢU THỊ MỸ Y Sinh năm: 1995; Tại: TP.HCM;
Thƣờng trú: 481/9/13 Hiệp Thành 17, khu phố 2, phƣờng Hiệp Thành, Quận 12, TP.HCM; Giới tính: Nữ; Nghề C: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lƣu Văn Hiếu Sinh năm: 1978 và bà Diệp Thùy Hƣơng Sinh năm: 1978; Bị cáo là con một; Chồng: Bùi Tá Tuấn Sinh năm: 1995; Bị cáo có 02 con: Lớn nhất sinh năm 2019 và nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
4/TRỊNH THỊ NGỌC H Sinh năm: 1998; Tại: TP.HCM;
Thƣờng trú: 183/4 khu phố 1, phƣờng Hiệp Thành, Quận 12, TP.HCM; Giới tính: Nữ; Nghề C: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trịnh Văn Thanh Sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị Hoa Sinh năm: 1976; Anh chị em: 02 ngƣời, bị cáo là con đầu; Chồng: Mai Lê T Sinh năm: 1996; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
5/LÊ NGỌC PHƢƠNG N Sinh năm: 1996; Tại: TP.HCM;
Thƣờng trú: 488/29/16 Phạm Văn Chiêu, phƣờng 16, Quận Gò Vấp, TP.HCM; Giới tính: Nữ; Nghề C: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Công Thanh Sinh năm: 1970 và bà Văn Thị Gái Sinh năm: 1978; Anh chị em: 02 ngƣời, bị cáo là con đầu; Chồng con: chƣa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
6/NGUYỄN HOÀNG L Sinh năm: 1996; Tại: Tỉnh Bắc Giang;
Thƣờng trú233/57/2 khu phố 3, phƣờng Tân Thới Hiệp, Quận 12, TP.HCM; Giới tính: Nữ; Nghề C: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Đoàn Sinh năm: 1971 và bà Nguyễn Thị Canh Sinh năm: 1971; Anh chị em: 02 ngƣời, bị cáo là con đầu; Chồng con: chƣa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
7/NGUYỄN THỊ THANH A Sinh năm: 1995; Tại: tỉnh Quảng Ngãi;
Thƣờng trú: 449/160/17 ấp 6, xã Đông TY, huyện Hóc Môn, TP.HCM; Giới tính: Nữ; Nghề C: Giáo viên mầm non; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Thuộc Sinh năm: 1970 và bà Võ Thị Kim Cúc Sinh năm: 1974; Anh chị em: 02 ngƣời, bị cáo là con đầu; Chồng: Hồ Thanh Thọ - đã ly hôn; Bị can có 01 con, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
8/NGUYỄN THANH B Sinh năm: 1998; Tại: tỉnh Quảng Ngãi;
Thƣờng trú: 449/160/17 ấp 6, xã Đông TY, huyện Hóc Môn, TP.HCM; Giới tính: Nam; Nghề C: Tài xế; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Thuộc Sinh năm: 1970 và bà Võ Thị Kim Cúc Sinh năm: 1974; Anh chị em: 02 ngƣời, bị cáo là con út; Vợ: Nguyễn Thị Thanh Vy Sinh năm: 1998; Bị cáo có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị cáo đƣợc triệu tập có mặt tại phiên tòa.
9/NGUYỄN CÔNG C Sinh năm: 1995; Tại: Tỉnh Cà Mau;
Thƣờng trú: khóm 5, phƣờng 9, TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nam; Nghề C: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Phi Thoàn Sinh năm: 1973 và bà Từ Thị Đoan Sinh năm: 1975; Anh chị em: 03 ngƣời, bị cáo là con thứ 2; Vợ con chƣa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/10/2022 cho đến nay, bị cáo đƣợc trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Những ngƣời tham gia tố tụng:
1/Ngƣời bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc Phƣơng N tại phiên tòa:
Bà Đoàn Thị Hồng Linh - Luật sƣ Công ty luật TNHH Thanh và Cộng sự - Đoàn Luật sƣ TP.HCM ( Có mặt).
Địa chỉ: 203/6/1 Huỳnh Văn Nghệ, Phƣờng 12, quận Gò Vấp, TP.HCM.
2/Ngƣời bào chữa cho bị cáo Trịnh Thị Ngọc H và bị cáo Mai Lê T tại phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoài Bảo - Luật sƣ Văn phòng luật sƣ Ngô Viết – Chi nhánh tỉnh Tây Ninh - Đoàn Luật sƣ TP.HCM ( Có mặt).
Địa chỉ: 27A đƣờng Bời Lời, khu phố Gia Huỳnh, phƣờng Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
3/Ngƣời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L tại phiên tòa:
Bà Lê Nguyễn Quỳnh Thi - Luật sƣ Văn phòng luật sƣ Quỳnh Thi - Đoàn Luật sƣ TP.HCM( Có mặt).
Địa chỉ: 26/10A Trần Quý Cáp, Phƣờng 11, quận Bình TY, TP.HCM.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Bị cáo Nguyễn Thị Thanh A có quen biết với nhóm của bị cáo Nguyễn Hoàng L, LƢU THỊ MỸ Y, Lê Ngọc Phƣơng N và Trịnh Thị Ngọc H. Nhóm của L dùng mạng xã hội Facebook để chửi A nên dẫn đến việc hai bên mâu thuẫn, gây gổ thách thức nhau trên mạng xã hội.
Khoảng 15 giờ 30 ngày 28/11/2021, L nhắn tin thách thức A ra đƣờng Lê Thị Riêng, Quận 12 gặp mặt nhau để giải quyết mâu thuẫn nhƣng A thách thức L đến nhà A để giải quyết. Do đó, L điện thoại rủ N, H và Y kéo đến nhà A. N, H và Y đồng ý, đồng thời Y rủ chồng là Bùi Tá X đi cùng. Sau đó, Bùi Tá X điều khiển xe máy không rõ biển số chở Y và N; L điều khiển xe máy hiệu Honda Vario màu đỏ, biển số 59V3-075.88 chở H đi đến hẻm nhà của A trên đƣờng Nguyễn Thị Sáng, ấp 6, xã Đông TY, huyện Hóc Môn và L nhắn tin cho A ra nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Lúc này, A kêu em trai là Nguyễn Thanh B cùng chồng là Sơn Nguyễn Đăng K và ngƣời làm công tên Hải (không rõ lai lịch) đi cùng A ra gặp nhóm của L vì sợ nhóm của L đông sẽ đánh A. Khi thấy A đi ra gặp cùng với một số thanh niên thì nhóm của L bỏ chạy. B điều khiển xe máy chở A đuổi theo. Khi đuổi kịp L, H thì A vừa chửi vừa dùng tay đánh vào nón bảo hiểm của H đang đội 01 cái nhƣng không gây ra thƣơng tích rồi B chở A về nhà. Sau đó A tiếp tục nhắn tin khích bác L nên L trả lời sẽ kéo ngƣời đến gặp A. Lúc này, Bùi Tá X gọi điện rủ bạn tên Đức (không rõ lai lịch) nhờ Đức hổ trợ. Đức đồng ý chạy xe máy Honda Vario màu đen không rõ biển số đến đón Bùi Tá X bên Quận 12. H gọi điện cho chồng là Mai Lê T kể việc bị A đánh và rủ Mai Lê T cùng đi đến nhà A. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, nhóm của L gồm N điều khiển xe máy hiệu Lyberty màu sơn trắng không rõ biển số chở Y; L điều khiển xe máy, biển số 59V3-075.88 chở H; Bùi Tá X điều khiển xe máy hiệu Vario màu đen không rõ biển số chở bạn tên Đức (không rõ lai lịch); Mai Lê T (chồng của H) điều khiển xe máy hiệu Honda SH màu trắng, biển số 59F2-282.59 chở 02 thanh niên (không rõ lai lịch) cùng đi đến hẻm nhà A và L nhắn tin cho A ra giải quyết mâu thuẫn. A nói cho B biết việc nhóm của L kéo ngƣời sang nên B bực tức lấy 01 cây gậy ba khúc rồi rủ Nguyễn Công C đi cùng; Trần Thị Anh Thƣ điều khiển xe máy xe máy Air Blade màu đỏ biển số 59G2-553.74 chở A Nguyễn Thị Thanh Vy (vợ của B) nhờ Khoa chạy xe máy, biển số 59S3-338.390 chở Vy chạy theo sau; Hải chở Thịnh (không rõ lai lịch) bằng xe Dream không rõ biển số cùng chạy ra. Khi thấy nhóm của A chạy ra thì nhóm của L bỏ chạy nên B điều khiển xe rƣợt theo thì bất ngờ ngƣời thanh niên ngồi giữa do Mai Lê T chở dùng súng bắn 3,4 phát liên tiếp về phía nhóm của A gây trúng mắt cá chân trái của B và 01 đầu đạn bắn trúng vào điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro màu đen trong túi quần bên phải gây ra vết nứt dạng tròn trên màn hình, đầu đạn bị biến dạng dài khoảng 1,2cm rơi trong túi quần nhƣng B không hay biết, đồng thời V cũng bị trúng đạn vào vùng mặt gây ra vết xây xƣớc da gây thƣơng tích. Thƣ, A, V, K khi thấy nhóm của L nổ súng thì tấp vô đƣờng đứng núp. B lúc này vừa điều khiển xe chở C vừa đuổi theo nhóm của L một đoạn đồng thời rút cây ba khúc cầm trên tay, C có lƣợm đá bên đƣờng ném về phía nhóm của L rồi cả nhóm quay về nhà. Sau đó A đến Cơ quan Công an trình báo.
Báo cáo của Công an xã Đông Thạnh và nhân chứng tại hiện trƣờng xác định việc hai nhóm trên tụ tập truy đuổi nhau rồi dùng súng bắn gây thƣơng tích gây ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng, cần phải xử lý.
Theo Bản kết luận giám định về thƣơng tích số 846/TgT.21 ngày 27/12/2021 của Trung tâm pháp y TP. Hồ Chí Minh kết luận về thƣơng tích của Nguyễn Thanh B: vết thƣơng thủng da tại mắt cá chân trái, hiện còn một sẹo kích thƣớc 0,8x0,2cm trên diện tăng sắc tố, tình trạng ổn định. Tỉ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 01%. Thƣơng tích trên do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động gây ra. Đầu đạn kim loại nhƣ bản ảnh quí cơ quan cung cấp có thể gây ra đƣợc thƣơng tích trên. Thông tƣ 22/2019/TT-BYT không quy định về cố tật và thẩm mỹ đối với thƣơng tích trên. Thƣơng tích trên không nguy hiểm đến tính mạng đƣơng sự.
Tại Bản kết luận giám định số 6553/KLGĐ-TT ngày 20/12/2021 của Phòng KTHS Công an TP.HCM kết luận: 01 vật bằng kim loại màu xám bị biến dạng, có kích thƣớc hình khối 12mm x 8mm x 6mm là đầu đạn đã qua sử dụng của loại đạn thể thao quốc phòng cỡ 5,6mm x 15,6mm thuộc nhóm vũ khí thể thao, không xác định đƣợc nơi sản xuất. Không đủ cơ sở xác định loại súng đã bắn ra đầu đạn nêu trên.
Riêng V bị xây xát da tại gò má trái không để lại dấu vết nên từ chối giám định. B có yêu cầu xử lý hình sự ngƣời gây ra thƣơng tích của mình.
Về vật chứng: 01 đầu đạn biến dạng dài khoảng 1,2cm; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro bị hƣ hỏng màn hình; 01 cây gậy ba khúc (đoạn cán có bọc nhựa màu đen, bên trong có 02 đoạn kim loại màu trắng, khi kéo dài ra khoảng 65cm thu ngắn khoảng 24cm); 01 quần dài màu đen vải thun tại vị trí túi quần bên phải có vết rách kích thƣớc 0,6x0,8cm; 01 xe máy Honda SH màu trắng, biển số 59F2-282.59 có số khung ZDCK10B0AF055595, số máy KF08E1057420KTGE1, tình trạng xe đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max có sim số 0901664145.
Tại Bản cáo trạng số 25/VKS-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố các bị cáo Mai Lê T, Bùi Tá X, Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C phạm tộivào tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội danh và hình phạt đƣợc quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt các bị cáo: Mai Lê T, Bùi Tá X mỗi bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nB cho hƣởng án treo, các bị cáo Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nB cho hƣởng án treo và xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa Luật sƣ Nguyễn Hoài Bảo bào chữa cho bị cáo Mai Lê T và Trịnh Thị Ngọc H phát biểu quan điểm bào chữa: Về tội danh: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, xác định bị cáo Mai Lê T và Trịnh Thị Ngọc H phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Về hình phạt: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; các bị cáo đƣợc tại ngoại, hiện tại có nơi cƣ trú rõ ràng, có việc làm ổn định, có hai con nhỏ, chấp hành tốt quy định của địa phƣơng nơi cƣ trú và Lnh triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho cáo bị cáo đƣợc hƣởng án treo theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn cũng đủ sức răn đe và tạo điều kiện cho các bị cáo làm việc, nuôi con nhỏ và sửa chữa sai lầm.
Luật sƣ Đoàn Thị Hồng Linh bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc Phƣơng N phát biểu quan điểm bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Ngọc Phƣơng N không có tội do hành vi khách quan không cấu thành tội phạm.
Tại phiên tòa Luật sƣ Lê Nguyễn Quỳnh Thi bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L phát biểu quan điểm bào chữa: Về tội danh: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, xác định bị cáo Nguyễn Thị Hoàng L phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Về hình phạt: Quá trình điều tra truy tố bị cáo đƣợc tại ngoại, hiện tại có nơi cƣ trú rõ ràng, có việc làm ổn định, chấp hành tốt quy định của địa phƣơng nơi cƣ trú và Lnh triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, gia đình bị cáo có công với cách mạng (bị cáo có ông nội Nguyễn Văn Là là liệt sỹ )nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 cho cáo bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng đủ sức răn đe và tạo điều kiện cho các bị cáo làm việc và sửa chữa sai lầm.
Các ý kiến sẽ đƣợc Hội đồng xét xử xem xét khi thảo luận, nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về Các hành vi, quyết định tố tụng của những ngƣời tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và ngƣời những tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những ngƣời tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Nhƣ vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những ngƣời tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Mai Lê T, Bùi Tá X, Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C cùng thừa nhận do nhóm của bị cáo L( gồm các bị cáo Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L) dùng mạng xã hội Facebook để chửi bị cáo Nguyễn Thị Thanh A nên dẫn đến việc hai bên mâu thuẫn, gây gổ thách thức nhau trên mạng xã hội nên hẹn nhau giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 15 giờ 30 ngày 28/11/2021, bị cáo L nhắn tin thách thức bị cáo A ra đƣờng Lê Thị Riêng, Quận 12, TPHCM gặp mặt nhau để giải quyết mâu thuẫn. Sau đó, bị cáo L điện thoại rủ bị cáo N, H và Y kéo đến nhà A. Bị cáo N, H và Y đồng ý, đồng thời Y rủ chồng là bị cáo Bùi Tá X đi cùng. Sau đó, bị cáo Bùi Tá X điều khiển xe máy không rõ biển số chở Y và N, bị cáo L điều khiển xe máy hiệu Honda Vario màu đỏ, biển số 59V3-075.88 chở bị cáo H đi đến hẻm nhà của bị cáo A trên đƣờng Nguyễn Thị Sáng, ấp 6, xã Đông TY, huyện Hóc Môn và L nhắn tin cho A ra nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Lúc này, bị cáo A kêu em trai là bị cáo Nguyễn Thanh B cùng chồng là Sơn Nguyễn Đăng K và ngƣời làm công tên Hải (không rõ lai lịch) đi cùng A ra gặp nhóm của L vì sợ nhóm của L đông sẽ đánh A. Khi thấy A đi ra gặp cùng với một số thanh niên thì nhóm của L bỏ chạy. B điều khiển xe máy chở A đuổi theo. Khi đuổi kịp L, H thì A vừa chửi vừa dùng tay đánh vào nón bảo hiểm của H đang đội 01 cái nB không gây ra thƣơng tích rồi B chở A về nhà. Sau đó bị cáo A tiếp tục nhắn tin khích bác bị cáo L nên L trả lời sẽ kéo ngƣời đến gặp A. Lúc này, bị cáo Bùi Tá X gọi điện rủ bạn tên Đức (không rõ lai lịch) nhờ Đức hỗ trợ. Đức đồng ý chạy xe máy Honda Vario màu đen không rõ biển số đến đón Bùi Tá X bên Quận 12. Bị cáo H gọi điện cho chồng là bị cáo Mai Lê T kể việc bị A đánh và rủ Mai Lê T cùng đi đến nhà A để trả thù. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, nhóm của L gồm: Bị cáo N điều khiển xe máy hiệu Liberty màu sơn trắng không rõ biển số chở Y; L điều khiển xe máy, biển số 59V3-075.88 chở H; Bùi Tá X điều khiển xe máy hiệu Vario màu đen không rõ biển số chở bạn tên Đức (không rõ lai lịch); Mai Lê T (chồng của H) điều khiển xe máy hiệu Honda SH màu trắng, biển số 59F2-282.59 chở 02 thanh niên (không rõ lai lịch) cùng đi đến hẻm nhà A và L nhắn tin cho A ra giải quyết mâu thuẫn. A nói cho B biết việc nhóm của L kéo ngƣời sang nên B bực tức lấy 01 cây gậy ba khúc rồi rủ Nguyễn Công C đi cùng; Trần Thị Anh Thƣ điều khiển xe máy xe máy Air Blade màu đỏ biển số 59G2-553.74 chở A. Nguyễn Thị Thanh Vy (vợ của B) nhờ Khoa chạy xe máy, biển số 59S3-338.390 chở Vy chạy theo sau; Hải chở Thịnh (không rõ lai lịch) bằng xe Dream không rõ biển số cùng chạy ra. Khi thấy nhóm của A chạy ra thì nhóm của L bỏ chạy nên B điều khiển xe rƣợt theo thì bất ngờ ngƣời thanh niên ngồi giữa do Mai Lê T chở dùng súng bắn 3,4 phát liên tiếp về phía nhóm của A gây trúng mắt cá chân trái của B và 01 đầu đạn bắn trúng vào điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro màu đen trong túi quần bên phải gây ra vết nứt dạng tròn trên màn hình, đầu đạn bị biến dạng dài khoảng 1,2cm rơi trong túi quần nhƣng B không hay biết, đồng thời Vy cũng bị trúng đạn vào vùng mặt gây ra vết xây xƣớc da gây thƣơng tích. Thƣ, A, Vy, Khoa khi thấy nhóm của L nổ súng thì tấp vô đƣờng đứng núp. B lúc này vừa điều khiển xe chở C vừa đuổi theo nhóm của L một đoạn đồng thời rút cây ba khúc cầm trên tay, C có lƣợm đá bên đƣờng ném về phía nhóm của L rồi cả nhóm quay về nhà. Sau đó A đến Cơ quan Công an trình báo. Theo Báo cáo của Công an xã Đông TY và nhân chứng tại hiện trƣờng xác định việc hai nhóm trên tụ tập truy đuổi nhau rồi dùng súng bắn gây thƣơng tích gây ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng, cần phải xử lý.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng đƣợc pháp luật bảo vệ, làm ảnh hƣởng đến an ninh trật tự tại địa phƣơng và tạo ra một dƣ luận xấu trong nhân dân. Ngoài ra còn xâm phạm đến các hoạt động đi lại, làm việc, vui chơi, nguyên tắc an toàn nơi công cộng tại nơi có Nều ngƣời qua lại, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của những ngƣời xung quanh. Hành vi phạm tội của các bị cáo cũng làm ảnh hƣởng đến việc thực hiện những đƣờng lối chính sách của Đảng, Nhà nƣớc trong quá trình ổn định đời sống ngƣời dân. Bản thân các bị cáo đều là những ngƣời có đủ năng lực trách Nệm hình sự, có thức rất rõ hành vi của mình là nguy hiểm, gây náo loạn và làm ngƣời dân trong khu vực hoang mang nB vì mục đích muốn giải quyết mâu thuẫn nhỏ nhặt của bản thân, các bị cáo vẫn quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau, không có mâu thuẫn, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Các Bị cáo Mai Lê T, Bùi Tá X, Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”. Tội danh và hình phạt đƣợc quy định tại điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Xuất phát từ mâu thuẫn, khích bác từ tin nhắn chửi trên Facebook của nhóm bị cáo Nguyễn Hoàng L với bị cáo Nguyễn Thị Thanh A nên các bị cáo này đã rủ rê các bị cáo còn lại trong vụ án cùng đi giải quyết mâu thuẫn với mình. Khi đƣợc rủ, các bị cáo còn lại trong vụ án đều biết rõ mục đích là đi giải quyết mâu thuẫn với bị cáo A nhƣng không có bị cáo nào khuyên can mà đều đồng ý cùng đi. Riêng bị cáo A, khi biết nhóm bị cáo L kéo đến và hẹn gặp đã rủ thêm bị cáo B, bị cáo C và một số ngƣời cùng đi ra gặp nhóm bị cáo L. Khi gặp nhau trƣớc hẻm nhà bị cáo A tại đƣờng Nguyễn Thị Sáng, ấp 6, xã Đông Thạnh, huyện hóc Môn, các bị cáo trong hai nhóm có sử dụng hung khí là súng thể thao, cây gậy ba khúc và gạch rƣợt đuổi đánh gây hỗn loạn nơi công cộng, gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng; gây hoang mang, lo sợ cho nhân dân trong khu vực. Cụ thể, các đối tƣợng thuộc nhóm của bị cáo Mai Lê T sử dụng súng bắn về phía nhóm bị cáo A làm cho bị cáo B và V( vợ B bị thƣơng tích tại mắt cá chân và gò má trái. Riêng nhóm của bị cáo A, B, C cũng sử dụng cây gậy ba khúc và gạch để chống trả nhóm bị cáo L. Nhƣ vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tình tiết định khung hình phạt là dùng vũ khí, hung khí đƣợc quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này các bị cáo đều là ngƣời cùng thực hiện hành vi phạm tội hết sức tích cực nhƣng không có sự câu kết chặt chẽ, chỉ là chỉ thực hiện hành vi một cách bộc phát, do đó không có cơ sở xác định các bị cáo phạm tội có tổ chức và có vai trò nhƣ nhau cùng thực hiện tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy khi quyết định hình phạt, cần có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội. Ngoài những vấn đề vừa phân tích nhƣ trên, Hội đồng xét xử xét thấy, khi lƣợng hình cũng cần xem xét về nhân thân, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách Nệm hình sự của các bị cáo để có mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo trong vụ án và thể hiện tính nhân đạo của Nhà nƣớc.
Đối với Nguyễn Thị Thanh V, Trần Thị Anh Th, Sơn Nguyễn Đăng K khi nghe A rủ bị cáo B, C đi chung bị cáo A ra gặp nhóm của bị cáo L thì cũng tự đi theo nB không biết đƣợc mâu thuẫn của các bên, không chuẩn bị hung khí, không tham gia, không khuyến khích hay có hành vi rƣợt đuổi nhóm bị cáo L. Khi thấy bị cáo B, C, A và nhóm bị cáo L rƣợt đuổi nhau thì dừng xe tấp vào nhà dân bên đƣờng ẩn nấp. Hành vi của các đối tƣợng này không phải là nguyên nhân gây ra sự việc nên Hội đồng xét xử không xét.
Về kết luận thƣơng tích của bị cáo Nguyễn Thanh B do súng gây ra:
Theo Bản kết luận giám định về thƣơng tích số 846/TgT.21 ngày 27/12/2021 của Trung tâm pháp y TP. Hồ Chí Minh kết luận về thƣơng tích của Nguyễn Thanh B: vết thƣơng thủng da tại mắt cá chân trái, hiện còn một sẹo kích thƣớc 0,8x0,2cm trên diện tăng sắc tố, tình trạng ổn định. Tỉ L tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 01%. Thƣơng tích trên do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động gây ra. Đầu đạn kim loại nhƣ bản ảnh quí cơ quan cung cấp có thể gây ra đƣợc thƣơng tích trên. Thông tƣ 22/2019/TT-BYT không quy định về cố tật và thẩm mỹ đối với thƣơng tích trên. Thƣơng tích trên không nguy hiểm đến tính mạng đƣơng sự.
Tại Bản kết luận giám định số 6553/KLGĐ-TT ngày 20/12/2021 của Phòng KTHS Công an TP.HCM kết luận: 01 vật bằng kim loại màu xám bị biến dạng, có kích thƣớc hình khối 12mm x 8mm x 6mm là đầu đạn đã qua sử dụng của loại đạn thể thao quốc phòng cỡ 5,6mm x 15,6mm thuộc nhóm vũ khí thể thao, không xác định đƣợc nơi sản xuất. Không đủ cơ sở xác định loại súng đã bắn ra đầu đạn nêu trên.
Riêng V bị xây xát da tại gò má trái không để lại dấu vết nên từ chối giám định. B có yêu cầu xử lý hình sự ngƣời gây ra thƣơng tích của mình. Đối với hành vi dùng súng gây thƣơng tích cho bị cáo Nguyển Thanh B của các đối tƣợng đi cùng bị cáo Mai Lê T, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hóc Môn đã tách ra xử lý riêng bằng vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt;
Tiền án, tiền sự: Không;
Tình tiết tăng nặng: Không;
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Riêng đối với bị cáo Nguyễn Hoàng L: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông nội bị cáo là Liệt sỹ. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về ý kiến của đại diện VKSND huyện Hóc Môn:
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hóc Môn đề nghị xử phạt tù các bị cáo nB cho hƣởng án treo là phù hợp và xử lý vật chứng theo quy định là có căn cứ nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về ý kiến của bào chữa cho bị cáo:
7.1/Tại phiên tòa Luật sƣ Nguyễn Hoài Bảo bào chữa cho bị cáo Mai Lê T và Trịnh Thị Ngọc H phát biểu quan điểm bào chữa: Về tội danh: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, xác định bị cáo Mai Lê T và Trịnh Thị Ngọc H phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Về hình phạt: Quá trình điều tra truy tố các bị cáo đƣợc tại ngoại, hiện tại có nơi cƣ trú rõ ràng, có việc làm ổn định, có hai con nhỏ, chấp hành tốt quy định của địa phƣơng nơi cƣ trú và Lnh triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho cáo bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng đủ sức răn đe và tạo điều kiện cho các bị cáo làm việc, nuôi con nhỏ và sửa chữa sai lầm.
7.2/Luật sƣ Đoàn Thị Hồng Linh bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc Phƣơng N phát biểu quan điểm bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lê Ngọc Phƣơng N không có tội do hành vi khách quan không cấu thành tội phạm vì cả hai lần bị cáo N đều không thực hiện hành vi đánh nhau với nhóm bị cáo A và đều bỏ chạy trƣớc. Nhƣ đã nhận định ở các phần trên, căn cứ lời khai của các bị cáo tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa cùng toàn bộ chứng cứ thu thập đƣợc, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bị cáo N cũng có mâu thuẫn với bị cáo A. Do đó, khi đƣợc bị cáo L rủ lên nhà bị cáo A để giải quyết mâu thuẫn, cả hai lần bị cáo N đều đồng ý và cùng đi. Nhƣ vậy, bị cáo N biết mục đích cùng các bị cáo khác lên nhà A nB không có ý kiến phản đối mà đều đồng ý và đi với các bị cáo khác trong nhóm bị cáo L. Khi đến nơi, cả hai nhóm đều thực hiện hành vi rƣợt đuổi nhau trên đƣờng Nguyễn Thị Sáng, ấp 6, xã Đông Thạnh, huyện hóc Môn gây mất an ninh trật tự, gây hoang mang, lo sợ cho ngƣời dân trong khu vực theo nhƣ báo cáo của Công an xã Đông TY và yêu cầu xử lý nghiêm. Do đó, hành vi của bị cáo N đủ yếu tố cầu thành tội gây rối trật tự công cộng nhƣ Cáo trạng truy tố nên Hội đồng xét xử không đồng ý quan điểm bào chữa của luật sƣ Linh.
7.3/Tại phiên tòa Luật sƣ Lê Nguyễn Quỳnh Thi bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 cho cáo bị cáo và cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng đủ sức răn đe và tạo điều kiện cho bị cáo làm việc và sửa chữa sai lầm là có cơ sở nên chấp nhận.
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, việc các đối tƣợng đi chung vời bị cáo Mai Lê T sử dụng súng bắn về nhóm bị cáo A các bị cáo đều không biết và không lƣờng trƣớc đƣợc, có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, có việc làm ổn định, hiện đang đƣợc tại ngoại chấp hành tốt Lệnh triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, chấp hành tốt quy định tại địa phƣơng nơi cƣ trú và nhận định có khả năng tự cải tạo sữa chữa. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, Riêng bị cáo Nguyễn Hoàng L ngoài các tình tiết nêu trên, bị cáo có ông nội là liệt sỹ. Đối với bị cáo Nguyễn Công C từ thời điểm bị tạm giam đến nay có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo đƣợc hƣởng áo treo cũng không gây nguy hiểm và ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách Nệm hình sự nhƣ trên, chiếu theo các Quy định hƣớng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đổng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát xử phạt tù các bị cáo nB cho hƣởng án treo cũng đủ sức răn đe đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa, khi đƣợc nói lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt và cho các bị cáo đƣợc hƣởng án treo để các bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành những công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, có điều kiện làm việc và nuôi con nhỏ.
Về xử lý tang vật:
- Đối với 01 đầu đạn biến dạng dài khoảng 1,2cm; 01 cây gậy ba khúc (đoạn cán có bọc nhựa màu đen, bên trong có 02 đoạn kim loại màu trắng, khi kéo dài ra khoảng 65cm thu ngắn khoảng 24cm) không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiệu hủy theo quy định tại khoản 2 Điểu 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Đối với 01 xe máy Honda SH màu trắng, biển số 59F2-282.59 có số khung ZDCK10B0AF055595, số máy KF08E1057420KTGE1, tình trạng xe đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max có sim số 0901664145 thu giữ của bị cáo Mai Lê T. Xét thấy, xe và điện thoại này bị cáo T, H sử dụng vào việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;
- Đối với 01 quần dài màu đen vải thun tại vị trí túi quần bên phải có vết rách kích thƣớc 0,6x0,8cm là tài sản của bị cáo B khi bị bắn giao nộp cho cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điểu 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro bị hƣ hỏng màn hình do bị cáo Nguyễn Thanh B giao nộp đƣợc xác định là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Về án phí HSST:
Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên và sau khi nghe lời bào chữa của Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh Thi bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L; của Luật sư Đoàn Thị Hồng Linh bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc Phương N; của Luật sư Nguyễn Hoài Bảo bào chữa cho bị cáo Mai Lê T và Trịnh Thị Ngọc H;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào điều 106 và Điều 136 và Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án:
[1]Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Mai Lê T, Bùi Tá X, Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”.
[2]Về hình phạt:
2.1/Xử phạt: Bị cáo MAI LÊ T: 02(Hai) năm 03( Ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 06 ( Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo Mai Lê T cho Ủy ban nhân dân phƣờng 13, quận Gò Vấp, TPHCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.2/Xử phạt: Bị cáo BÙI TÁ X: 02(Hai) năm 03( Ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 06 ( Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo Bùi Tá X cho Ủy ban nhân dân phƣờng Hiệp Thành, Quận 12, TP.HCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.3/Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN THANH B: 02(Hai) năm 03( Ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 06 ( Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Thanh B cho Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, TPHCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.4/Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN CÔNG C: 02(Hai) năm 03( Ba) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 06 ( Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).Trà tự do cho bị cáo Nguyễn Công C tại phiên tòa.
Giao bị cáo Nguyễn Công C cho Ủy ban nhân dân phƣờng 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.5/Xử phạt: Bị cáo TRỊNH THỊ NGỌC H: 02( Hai) năm 02( Hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 04( Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo Trịnh Thị Ngọc H cho Ủy ban nhân dân phƣờng 13, quận Gò Vấp, TPHCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.,
2.6/Xử phạt: Bị cáo LƢU THỊ MỸ Y: 02( Hai) năm 02( Hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 04( Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo LƢU THỊ MỸ Y cho Ủy ban nhân dân phƣờng Hiệp Thành, Quận 12, TP.HCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.7/Xử phạt: Bị cáo LÊ NGỌC PHƢƠNG N: 02( Hai) năm 02( Hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 04( Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo Lê Ngọc Phƣơng N cho Ủy ban nhân dân phƣờng 16, Quận Gò Vấp, TP.HCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.8/Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN THỊ THANH A: 02( Hai) năm 02( Hai) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm 04( Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh A cho Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, TPHCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.9/Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN HOÀNG L: 02( Hai) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 04( Bốn) năm tính từ ngày tuyên án ( ngày 14/7/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng L cho Ủy ban nhân dân phƣờng Tân Thới Hiệp, Quận 12, TP.HCM nơi bị cáo đang cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trƣờng hợp các bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Mai Lê T, Bùi Tá X, Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điểu 87, 91, 92, 93 Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo. Trƣờng hợp bị cáo phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi , bổ sung năm 2017.
( Các bị cáo Mai Lê T, Bùi Tá X, Lƣu Thị Mỹ Y, Trịnh Thị Ngọc H, Lê Ngọc Phƣơng N, Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Thị Thanh A, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Công C đã đƣợc giải thích chế định về án treo).
[3]Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 đầu đạn biến dạng dài khoảng 1,2cm; 01 cây gậy ba khúc (đoạn cán có bọc nhựa màu đen, bên trong có 02 đoạn kim loại màu trắng, khi kéo dài ra khoảng 65cm thu ngắn khoảng 24cm) và 01 quần dài màu đen vải thun tại vị trí túi quần bên phải có vết rách kích thƣớc 0,6x0,8cm;
- Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc 01 xe máy Honda SH màu trắng, biển số 59F2-282.59 có số khung ZDCK10B0AF055595, số máy KF08E1057420KTGE1, tình trạng xe đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max có sim số 0901664145 thu giữ của bị cáo Mai Lê T;
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh B 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro bị hƣ hỏng màn hình;
Vật chứng của vụ án do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023 của Công an huyện Hóc Môn.
[4]Về án phí Hình sự sơ thẩm:
Mỗi bị cáo chịu 200.000( Hai trăm nghìn) đồng, thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu các bị cáo chƣa thi hành các khoản tiền nêu trên thì các bị cáo còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chƣa thi hành tƣơng ứng với thời gian chƣa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[5]Về Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - Sở Tƣ pháp Tp.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Công an huyện Hóc Môn; - Chi cục THADS huyện Hóc Môn; - Các Bị cáo; - Ngƣời tham gia tố tụng khác; - Lƣu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Hoàng Thị Yến Ngọc |