- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quang Tr. Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, b…"
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| N NH N D N N H H H N H V N M NH M Đ N Đ c l p – do – H nh ph c | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2023/HS-PT Ngày: 15-8-2023 |
NHÂN DANH
N
N H
H
H N H V
N M
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Nguyễn Hữu Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 118/2023/TLPT-HS ngày 02/6/2023 đối với bị cáo Trương Quang Tr, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 17/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: rương Quang r, sinh năm: 1994, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ 1, Thôn PC, xã TH, Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Tạ Đình T, sinh năm: 1965 và bà: Trương Thị Ngọc L, sinh năm: 1970; vợ: Trần Thị Ngọc Th, sinh năm: 1998; có 02 con, lớn nhất sinh năm: 2019, nhỏ nhất sinh năm: 2022; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Quyết định số 18/QĐ-XPVPHC ngày 05/8/2017, Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt Trương Quang Tr số tiền 200.000 đồng về hành vi “Xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác”, chấp hành xong quyết định ngày 10/10/2020. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Tổ 1, Thôn PC, xã TH, Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt không có lý do)
N DUN VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h00 ngày 19/4/2022, Trương Quang Tr và Cao Trung Tuyến sau khi đi nhậu về đã đến quán cà phê “Trạm Hành” tại Tổ 2, thôn PC, xã TH, thành phố Đà Lạt để uống nước. Tại đây, Trung gặp Lê Điền Ph do có mâu thuẫn trước đó với Phương vì bị Phương nói “Trung chơi xấu, chơi điếm” nên Trung nói với Tuyến: “Chở em về nhà xíu” thì Tuyến có nói lại: “Ngồi chơi thêm xíu nữa rồi về”, Trung nói: “anh cứ chở em về đi”. Sau đó, Tuyến đồng ý chở Trung về nhà tại tổ Phát Chi, Trạm Hành, thành phố Đà Lạt. Tại đây, Tuyến đợi ở ngoài, còn Trung vào nhà lấy 01 cậy gậy sắt, dài khoảng 50cm, màu trắng, đường kính 3cm (loại gậy rút), 01 bình xịt hơi cay dài khoảng 10cm, bỏ vào túi quần. Sau đó, Tuyến chở Trung quay lại quán café “Trạm Hành”. Khi quay lại quán, Trung thấy Phương đang ngồi gần lan can sau quán, Trung tay phải lấy cây gậy rút từ trong túi quần, tay trái cầm bình xịt hơi cay lao tới chỗ Phương đang ngồi uống nước rồi Trung dùng tay phải cầm gậy vụt liên tiếp từ trên xuống dưới khoảng 3 - 4 cái trúng vào người của Phương thì Trung bị té ngã. Sau khi Trung đứng dậy thì bị Phương lao tới đẩy người ngang ra lan can quán thì được mọi người kéo lại và Trung tiếp tục tay trái cầm bình xịt hơi cay về hướng của Phương; đồng thời, tay phải cầm gậy vụt từ trên xuống dưới 2 - 3 cái trúng vào tay trái của Phương khi đưa tay lên đỡ. Sau đó được mọi can ngăn ra thì Trung dừng lại, còn Phương được mọi người chở đi bệnh viện chữa trị vết thương (BL: 34; 36; 46-49; 110-120; 127-143).
Vật chứng thu giữ:
- 01 bình hình tròn, màu xanh, chiều dài khoảng 10cm, đường kính khoảng 0.4cm, có nắp màu đen trên thân bình có chữ AMERI CAM STYLE - NATO SUPER PARO LISANT.
- 01 mảnh kính có chiều dài 0.5cm x 4.5cm x 3.5cm, dày 0.7cm.
- 01 gậy rút (03 khúc) bằng kim loại, màu trắng, dài 62cm, hình trụ tròn có đường kính lớn nhất 2,5cm, đường kính nhỏ nhất 1cm.
- 01 căn cước công dân số 068094005977 mang tên Trương Quang Tr (BL: 33; 38; 40-44).
Bị hại anh Lê Điền Ph, sinh năm 2001, nơi cư trú: Tổ 5, thôn PC, xã TH, thành phố Đà Lạt bị gãy mỏm khuỷu tay trái. Quá trình điều tra, Trương Quang Tr đã bồi thường cho anh Phương số tiền 50.000.000 đồng và anh Phương không có yêu cầu gì khác (BL: 65-79; 119).
Ngày 27/05/2022 Trung tâm Pháp y tỉnh Lâm Đồng có bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 200/2022/TgT, kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Gãy mỏm khuỷu trái là 8%
- Sẹo mổ 12cm là 3%.
2. Kết luận:
- Căn cứ Bảng “Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần” ban hành theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Điền Ph 11% (mười một phần trăm). Theo nguyên tắc cộng tại Thông tư.
3. Tổn thương do vật tày gây nên (BL: 80-81).
Ngày 10/02/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng có bản kết luận giám định số 1981/KL-KTHS, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là bình xịt hơi cay thuộc công cụ hỗ trợ (BL: 94).
Ngày 08/6/2022, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Thành phố Đà Lạt có Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 tấm kính hình vuông, diện tích 55 x 55cm, dày 0,7cm, đã qua sử dụng. Tại thời điểm định giá 19/4/2022, tấm kính có giá trị còn lại là 120.000 đồng (BL: 96-97).
Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSĐL ngày 01/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Trương Quang Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2023/HS-ST ngày 17/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử;
Tuyên bố bị cáo Trương Quang Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a, i khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trương Quang Tr 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/4/2023, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, đơn kháng cáo bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị, bị cáo vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị cáo Trung và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH
N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Bị cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, bị cáo vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị cáo theo thủ tục chung.
[3] Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo của bị cáo, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định về pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước với Phương vì Trung nghe người khác nói lại rằng Phương nói bị cáo là “Trung chơi xấu, chơi đểu”, nên vào tối ngày 19/4/2022, khi thấy Phương đang ngồi tại quán cà phê “Trạm Hành” ở Tổ 2, thôn PC, xã TH, thành phố Đà Lạt, thì Trung về nhà lấy 01 bình xịt hơi cay và 01 cây gậy bằng kim loại, mục đích mang tới quán Café để đánh Phương. Khi tới quan Café, thấy Phương đang ngồi gần lan can sau quán thì Trung lấy cây gậy rút từ trong túi quần đã chuẩn bị sẵn ra, tay trái cầm bình xịt hơi cay lao tới chỗ Phương đang ngồi uống nước rồi Trung dùng tay phải cầm gậy sắt vụt liên tiếp từ trên xuống dưới khoảng 3 - 4 cái trúng vào người của Phương thì Trung bị té ngã. Sau khi Trung đứng dậy thì bị Phương lao tới đẩy người ngang ra lan can quán thì được mọi người kéo lại và Trung tiếp tục tay trái cầm bình xịt hơi cay về hướng của Phương, đồng thời, tay phải cầm gậy vụt từ trên xuống dưới 2
- 3 cái trúng vào tay trái của Phương khi đưa tay lên đỡ. Sau đó được mọi người can ngăn ra thì Trung dừng lại, còn Phương được mọi người chở đi bệnh viện chữa trị vết thương. Trương Quang Tr khai nhận chính Trung là người đã dùng bình xịt hơi cay và cây sắt gây thương tích cho anh Lê Điền Ph
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 200/2022-TgT ngày 27/5/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Điền Ph là 11% (mười một phần trăm) vĩnh viễn.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Trương Quang Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và được người bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 03 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, đơn kháng cáo của bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, hành vi của bị cáo thể hiện bản tính hung hăng, liều lĩnh, côn đồ, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, không hề có mâu thuẫn hay xích mích mà chỉ vì nghe tin người khác nói lại là Phương nói xấu bị cáo, cũng không biết nói xấu gì, sau đó bị cáo đã nhờ Tuyến chở về nhà bị cáo lấy 01 gậy sắt và bình xịt hơi cay lại quán, lúc này bị cáo đã dùng bình xịt hơi cay, cầm gậy sắt vụt liên tiếp vào người bị hại thể hiện sự côn đồ, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Quang Tr, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Trương Quang Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a, i khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trương Quang Tr 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Quang Tr phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: M. H Đ N É Ử PHÚ HẨM - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); HẨM PH N – H Ọ PH ÊN - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND thành phố Đà Lạt (04); - VKSND thành phố Đà Lạt (01); - Cơ quan CSĐT CA thành phố Đà Lạt (01); Đã ký - Cơ quan THAHS thành phố Đà Lạt (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (03); - Hồ sơ THAHS (04); Đỗ M nh Hùng - Lưu hồ sơ; Án văn. |