vanban.org

Bản án 117/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 10/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn N ly hôn chị Bùi Thị D.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc B, sinh ngày 07/02/2011 cho anh N tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi trƣởng thành đủ 18 tuổi. Chị Bùi Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở. Chấp nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị D phải cấp dƣỡng nuôi con. Về án phí: Anh Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn NGuyễn Văn N và Bùi Thị D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn N ly hôn chị Bùi Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/5/2023
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dƣơng Thị Kim Hồng và bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ,tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tƣởng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 N 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 46/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 N 2023 về “ Ly hôn”. Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 N 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2023/QĐ-ST ngày 26 tháng 4 N 2023 giữa:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh N 1985; Nơi cƣ trú: Thôn Hữu C, xã Hà T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Bùi Thị D, sinh N 1992.

Địa chỉ trƣớc khi xuất cảnh: Thôn Hữu C, xã Hà T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Hiện đang lao động tại Trung Quốc. Vắng mặt.

NỘI D VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh và chị Bùi Thị D tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ ngày 30/7/2010. Sau ngày cƣới vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hoà hợp, không quan tâm đến nhau. Vợ chồng sống chung đến N 2016, chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh đƣợc ly hôn chị D.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 07/02/2011 hiện đang ở với anh N. Ly hôn, anh N xin đƣợc nuôi con chung, không yêu cầu chị D phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại lời khai của ông Bùi Văn Sáng và bà Vũ Thị Duyên là bố mẹ đẻ chị D xác định: Chị D và anh N kết hôn tự nguyện, trong quá trình sống chung, anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, chị D đã về nhà đẻ sinh sống , sau đó chị D đi là ăn xa, thỉnh thoảng có về nhà. Gia đình đƣợc thông báo chị D đi làm ăn ở Trung Quốc, gia đình chỉ biết vậy chứ không biết địa chỉ cụ thể. Mọi thông tin về việc anh N khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết việc ly hôn, gia đình đã thông báo cho chị D. Sau khi đƣợc gia đình thông báo, chị D không có văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án, tuy nhiên qua liên lạc điện thoại với gia đình, chị D có quan điểm đồng ý ly hôn anh N.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 07/02/2011 hiện đang ở với anh N. Ly hôn, anh N xin đƣợc nuôi con chung chị cũng nhất trí.

Về tài sản chung: Gia đình chị D xác định anh chị không có.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân xã Hà Thanh thể hiện: Anh N và chị D có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hà Thanh vào ngày 30/7/2010, sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại gia đình nhà chồng đƣợc thời gian ngắn, đến N 2016 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh N có đơn xin ly hôn, quan điểm địa phƣơng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dƣơng phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thƣ ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự . Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh N đƣợc ly hôn chị D. Về con chung: Giao cho anh N tiếp tục nuôi dƣỡng con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 07/02/2011, chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con của anh N.Về án phí: Anh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và bị đơn chị Bùi Thị D đều có hộ khẩu thƣờng trú tại Thôn Thanh Kỳ, xã An Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Tuy nhiên, theo văn bản trả lời của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an xác định chị Bùi Thị D đã xuất cảnh ngày 12/10/2016, chƣa có thông tin nhập cảnh. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đề nghị gia đình chị D cung cấp địa chỉ, nhƣng gia đình không cung cấp đƣợc. Qua xác minh tại gia đình chị D thì đƣợc biết, chị D đi làm ở Trung Quốc nhƣng vẫn thƣờng xuyên liên lạc với gia đình. Ông Bùi Văn Sáng và bà Vũ Thị Duyên là bố mẹ đẻ chị D đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị D biết. Tòa án cũng đã tiến hành giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị D vẫn vắng mặt, anh N đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và khoản 1 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự theo quy định của pháp luật.

. Về nội D:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn N và chị Bùi Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hà Thanh, huyện Tứ Kỳ ngày 30/7/2010 nên hôn của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến N 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thƣờng xẩy ra bất hòa cãi nhau, anh chị đã sống ly thân, chị D đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và đi làm ăn xa. Thông qua gia đình, chị D cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị có quan điểm đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh N, chị D đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ N 2016 đến nay, không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh N ly hôn chị D là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong quá trình sống chung, anh chị có 01 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 07/02/2011 hiện đang ở với anh N. Ly hôn, anh N đề nghị đƣợc nuôi con chung, không yêu cầu chị D phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy chị D đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phƣơng, nguyện vọng xin đƣợc nuôi con của anh N là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Tài sản chung: Anh N xác định không có nên không yêu cầu. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự (về hôn nhân gia đình) sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn N ly hôn chị Bùi Thị D.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc B, sinh ngày 07/02/2011 cho anh N tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi trƣởng thành đủ 18 tuổi. Chị Bùi Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở. Chấp nhận sự tự nguyện của anh N không yêu cầu chị D phải cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí, theo biên lai thu số AA/2021/0000741 ngày 12/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, chị Bùi Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ