vanban.org

Bản án 117/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy L.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thúy L được ly hôn với anh Phan Thanh P. Về con chung: Giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 21/02/2017 cho anh Phan Thanh P được quyền trực tiếp nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Lê Thị Thúy L với anh Phan Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30 – 6 – 2023
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia
đình ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Khon;

2. Ông Trần Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thúy L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Số E, lô F, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Phan Thanh P, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số nhà H, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thúy L trình bày:

Chị Lê Thị Thúy L và anh Phan Thanh P chung sống với nhau có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán tại địa phương, đăng ký kết hôn ngày 28/3/2017, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trước khi tổ chức kết hôn, anh chị có quen biết trước, tìm hiểu nhau khoảng 03 năm. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn.

Sau khi kết hôn, chị L và anh P chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do thời điểm đó, vợ chồng anh chị đi làm công nhân tại tỉnh Bình Dương, cuộc sống kinh tế khó khăn mà anh P thường xuyên nhậu với bạn bè đến 01, 02 giờ sáng mới về, chị khuyên nhiều lần không được, nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi và xảy ra đánh nhau. Sau đó, chị L và anh P ly thân không chung sống với nhau đến nay. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không hàn gắn tình cảm với nhau. Hiện nay, chị L không còn tình cảm vợ chồng với anh P.

Chị L và anh P có 01 con chung tên Phan Gia H, sinh ngày 21/02/2017. Hiện nay cháu đang sống với anh P tại số nhà H, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Chị Lê Thị Thúy L yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thúy L yêu cầu ly hôn với anh Phan Thanh P.

- Về con chung: Chị Lê Thị Thúy L thống nhất giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 21/02/2017 cho anh Phan Thanh P được quyền trực tiếp nuôi con, chị L1 không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, do anh P không yêu cầu.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phan Thanh P không có ý kiến trình bày.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy L: Cho chị Lê Thị Thúy L được ly hôn với anh Phan Thanh P; Giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 21/02/2017 cho anh Phan Thanh P được quyền nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên; Chị Lê Thị Thúy L không phải cấp dưỡng nuôi con do anh P không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

- Đơn khởi kiện ngày 30/01/2023 của chị Lê Thị Thúy L.

- Trích lục kết hôn giữa chị Lê Thị Thúy L và anh Phan Thanh P.

- Giấy khai sinh của cháu Phan Gia H.

- Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 03/4/2023.

- Biên bản xác minh sự có mặt, vắng mặt của đương sự Phan Thanh P tại nơi cư trú ngày 05/4/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy L và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Phan Thanh P cư trú tại số nhà H, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Lê Thị Thúy L vắng mặt có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn anh Phan Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh P là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thúy L và anh Phan Thanh P đăng ký kết hôn ngày 28/3/2017, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn. Việc kết hôn giữa chị Lê Thị Thúy L và anh Phan Thanh P là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Trong thời gian anh chị chung sống với nhau anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, do anh P thường xuyên nhậu, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, xảy ra hành vi bạo lực gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh P nhiều lần để hòa giải, nhưng anh P không đến Tòa án để hòa giải và trình bày ý kiến của mình, cũng như không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị L. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; nhưng từ những phân tích trên cho thấy, trong thời gian anh chị chung sống với nhau có hành vi bạo lực gia đình, anh chị đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này chứng minh, hôn nhân giữa chị L và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Thúy L đối với anh Phan Thanh P là phù hợp.

Về con chung: Chị Lê Thị Thúy L và anh Phan Thanh P có 01 con chung tên Phan Gia H, sinh ngày 21/02/2017. Xét thấy, cháu H đang sống với anh P1; Chị L có nguyện vọng giao cháu H cho anh P được tiếp tục nuôi dưỡng. Vì vậy, để tránh việc thay đổi môi trường sống của cháu H, đảm bảo cho cháu được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, tiếp tục giao cháu H cho anh P được quyền nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh P không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này anh chị có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, sẽ được xem xét, giải quyết trong vụ án khác.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L cho rằng anh chị tự thỏa thuận về tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Anh P không có ý kiến và yêu cầu về tài sản chung và nợ chung; Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; Nếu sau này anh chị có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Lê Thị Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thúy L.

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thúy L được ly hôn với anh Phan Thanh P.

- Về con chung: Giao cháu Phan Gia H, sinh ngày 21/02/2017 cho anh Phan Thanh P được quyền trực tiếp nuôi con.

Chị Lê Thị Thúy L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Lê Thị Thúy L không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Phan Thanh P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị Lê Thị Thúy L.

Chị Lê Thị Thúy L không phải cấp dưỡng nuôi con, do anh Phan Thanh P không yêu cầu.

- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí:

Chị Lê Thị Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016165 ngày 30/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Lê Thị Thúy L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Phan Thanh P không phải chịu án phí.

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ