- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim S, buộc bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T (3 T1) phải có nghĩa vụ liên đới trả bà Nguyễn Thị Kim S số tiền là 138.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2023/DS-ST Ngày 30 tháng 6 năm 2023 “V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nga, ông Võ Thanh Nhàn;
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 479/2022/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 375/2023/QĐST- DS ngày 31 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim S (Bé S, Kim S), sinh năm 1975; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Kim S: Ông Phạm Phong P, sinh năm 1972; địa chỉ: số F, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo Văn bản ủy quyền ngày 09/01/2023 của Văn phòng C, tỉnh An Giang chứng nhận); có mặt.
2. Bị đơn: Bà Lê Diệu L, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn T (3 T1), sinh năm 1975; địa chỉ ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Phong P là đại diện theo ủy quyền của bà S trình bày, bà S tham gia 03 dây hụi, do bà L làm chủ hụi, cụ thể: dây thứ nhất: 2.000.000 đồng, khởi khui ngày 10/8/2019 âm lịch, chầu hụi vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, dây hụi có 39 hụi viên, bà S chầu được 31 phần hụi sống, còn 07 phần hụi chưa chầu; hụi này đến thời điểm hiện nay là đã mảng, dây hụi này, nếu ai hốt hụi phải chi cho chủ hụi số tiền là 1.000.000đồng theo sự đồng thuận của các hụi viên; tổng số tiền đã chầu là 48.920.000đồng, lời 13.080.000đồng. Dây thứ 2, khởi khui ngày 20/12/2020 âm lịch, bắt đầu chầu vào 25/12/2020 âm lịch, và tiếp tục chầu các tháng sau vào ngày 25 hàng tháng, có 30 hụi viên, bà S chầu 18 hụi sống, còn lại 12 lần chưa chầu, dây hụi này, nếu ai hốt hụi phải chi cho chủ hụi số tiền là 1.000.000đồng theo sự đồng thuận của các hụi viên; tổng số tiền đã chầu 28.900.000đồng, lời 7.000.000đồng. Dây hụi thứ 3: Dây hụi 5.000.000đồng, khởi khui ngày 30/02/2021 âm lịch, bắt đầu góp hụi ngày 05/3/2021 âm lịch, gồm có 31 hụi viên, bà S chầu được 15 lần hụi sống, bà S tham gia 01 phần hụi, dây hụi này nếu ai hốt hụi thì phải nộp hoa hồng cho chủ hụi là 2.000.000đồng; tổng số tiền đã chầu là 61.100.000đồng, lời 13.900.000đồng. Tất cả các dây hụi, bà L, ông T tuyên bố ngưng hụi từ ngày ngày 10/5/2022.
Tống số tiền cả 03 dây hụi mà bà S đã chầu là 138.920.000đồng (một trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng), tại đơn khởi kiện bà S yêu cầu bà L, ông T phải liên đới thanh toán số tiền là 140.570.000đồng, bà S đề nghị rút lại một phần yêu cầu khởi kiện số tiền 1.650.000 đồng, vẫn giữ nguyên yêu cầu không tính lãi.
Bà Lê Thị Diệu L1 trình bày: Thống nhất như lời trình bày của đại diện nguyên đơn đã trình bày; bà Nguyễn Thị Kim S có chơi 03 dây, tổng số tiền mà bà sáu đã chầu của 03 dây hụi là 138.920.000đồng (một trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng), cũng như thống nhất về số tiền đến nay bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T (3 T1) còn nợ của bà Nguyễn Thị Kim S số tiền hụi là 138.920.000đồng (một trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Ông Phạm Phong P trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, không có yêu cầu bổ sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 1.650.000 đồng.
- Bà Lê Diệu L1 xác định các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã công khai là đúng, công nhận số tiền nợ hụi, không có tài liệu chứng cứ khác giao nộp cho Tòa án, cũng như không có yêu cầu khác để chứng minh cho quyền, nghĩa vụ của mình, tại phiên tòa bà L1 thừa nhận đến nay còn nợ bà S số tiền hụi như đại diện theo ủy quyền của bà S đã trình bày, cũng như xác định việc ông T biết bà là chủ hụi, cũng như thực hiện thu hụi giúp bà tại các dây hụi.
- Ông Lê Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không ghi nhận được ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T vắng mặt lần thứ 2, nên đề nghị xét xử vắng mặt.
Về việc giải quyết vụ án: Chấp yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Kim S; buộc bà Lê Diệu L1 và ông Lê Văn T liên đới trả Bà Nguyễn Thị Kim S số tiền 138.920.000đồng (một trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 1.650.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 471 Bộ luật Dân sự xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Kim S và bà Lê Diệu L1 hiện đang cư trú trên địa bàn huyện C, giữa bà S, bà L1 có quan hệ góp hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
Về ủy quyền tham gia tố tụng: Bà S, ủy quyền cho ông Phạm P1 tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại các Điều 85, 86 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên ông P có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xác định tiền hụi: giữa Bà Nguyễn Thị Kim S và bà Lê Diệu L1 có quan hệ góp hụi (họ) theo đó bà L1 là chủ hụi, bà S là hụi viên. Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bà S và bà L1 đều thống nhất việc bà S có tham gia 03 dây hụi như đại diện theo ủy quyền của bà S đã trình bày, thống nhất về số tiền mà bà S đã chầu hụi cho bà L1 với số tiền 138.920.000đồng (một trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng). Như vậy, việc bà L1 đều công nhận việc chầu hụi, khui hụi, số lần chầu, số tiền còn nợ như đại diện theo ủy quyền của bà S đã trình bày, nên đây là tài liệu, chứng cứ không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 15, 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ, thì người có nghĩa vụ, chủ hụi phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền hụi còn thiếu cho hụi viên, nên việc bà L1 thừa nhận còn nợ tiền hụi của bà S; cho nên bà L1 phải có nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại các Điều 351, 352, 357 Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, việc cả bà S, bà L1 đều thống nhất về phương thức chơi hụi, thời gian đóng hụi, hốt hụi, chầu hụi và số tiền nợ hụi theo tài liệu, chứng cứ mà bà S đã cung cấp. Vì vậy, việc bà S khởi kiện là có cơ sở xem xét, chấp nhận.
Về trách nhiệm liên đới: Theo quy định tại Điều 25, 27 và Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình, thì vợ chồng phải có nghĩa vụ liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, bà L1 tại phiên tòa công nhận việc ông T biết bà là chủ hụi, sử dụng tiền lời hụi (hoa hồng) vào mục đích kinh tế gia đình, cho nên việc bà S, cùng bà L1 đều xác nhận việc ông T biết việc bà L1 là chủ hụi, ông T cũng có thực hiện việc thu hụi. Vì vậy, việc bà S yêu cầu ông T phải có trách nhiệm liên đới là có căn cứ; nên ông T phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà L1 theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình. Hơn nữa, giữa ông T với bà L1 có đăng ký kết hôn từ năm 2002, ông T trong quá trình tố tụng đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng ông không có ý kiến, có nghĩa ông đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S về việc buộc bà bà L1, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà S số tiền 138.920.000đồng (một trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án dân sự sơ thẩm:
- Do yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Kim S được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp;
- Bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T phải liên đới chịu án phí tương ứng với số tiền mà bà S được chấp nhận theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự có quyền kháng cáo Bản án, quyết định của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 351, 352, 357, 288, 468, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 25, 27, 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 227, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim S, buộc bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T (3 T1) phải có nghĩa vụ liên đới trả bà Nguyễn Thị Kim S số tiền là 138.920.000đồng (một trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị Kim S được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp với số tiền 3.514.000 đồng (ba triệu, năm trăm mười bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu tam ứng án, lệ phí Tòa án số 0013133 ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;
- Bà Lê Diệu L1, ông Lê Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 6.946.000 đồng (sáu triệu, chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), bà L1, ông T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện, đối với số tiền 1.650.000 đồng (một triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện Chợ Mới (2); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (2); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |