vanban.org

Bản án 117/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 18/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Nguyễn Phi Đ.

2/ Buộc ông Nguyễn Phi Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khoản nợ tính đến ngày 18/9/2023 là 14.140.024 đồng. Trong đó, nợ gốc là 9.366.640 đồng, lãi quá hạn là 4.773.384 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 18/9/2023 ông Nguyễn Phi Đ còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng S - Nguyễn Phi Đ - Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Nguyễn Phi Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/DS-ST
Ngày 18 tháng 9 năm 2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt

Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ: Số 266-268, N, phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh D – Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S chi nhánh Bạc Liêu (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phi Đ, sinh năm 1963

Địa chỉ: Số 7/249, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/6/2018 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Phi Đ đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, theo đó ông Đ được cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 10.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Đ đã giao dịch với tổng số tiền là 9.000.000 đồng.

Do ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ trên sang quá hạn ngày 22/8/2022.

Tính đến ngày 18/9/2023 ông Đ còn nợ các khoản sau: 14.140.024 đồng. Trong đó, nợ gốc là 9.366.640 đồng, lãi quá hạn là 4.773.384 đồng.

Ngân hàng yêu cầu ông Đ trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 18/9/2023 là 14.140.024 đồng (nợ gốc là 9.366.640 đồng, lãi quá hạn là 4.773.384 đồng) và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 18/9/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Nguyễn Phi Đ vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày:

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật:

Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc ông Nguyễn Phi Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khoản nợ tính đến ngày 18/9/2023 là 14.140.024 đồng. Trong đó, nợ gốc là 9.366.640 đồng, lãi quá hạn là 4.773.384 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 18/9/2023 ông Nguyễn Phi Đ còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Về án phí ông Nguyễn Phi Đ phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đương sự; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Phi Đ trả số nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hợp đồng tín dụng được thực hiện tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Cho nên, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét hợp đồng tín dụng:

Ngày 16/6/2018 Ngân hàng và ông Nguyễn Phi Đ đã ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, theo đó ông Đ được cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 10.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân. Lãi suất cho vay 2,5% /tháng, chịu thêm lãi quá hạn nếu không thực hiện thanh toán vốn lãi đúng hạn, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.

Do ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 22/8/2022 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 18/9/2023 ông Đ còn nợ các khoản sau: Nợ gốc là 9.366.640 đồng, phí và lãi quá hạn là 4.773.384 đồng.

Ngân hàng yêu cầu ông Đ trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 18/9/2023 là 14.140.024 đồng. Trong đó, nợ gốc là 9.366.640 đồng, lãi quá hạn là 4.773.384 đồng; tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay từ sau ngày 18/9/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

Xét thấy hợp đồng tín dụng đã được ký kết đúng theo quy định pháp luật, yêu cầu trả tiền gốc, lãi của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Phi Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Nguyễn Phi Đ.

2/ Buộc ông Nguyễn Phi Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khoản nợ tính đến ngày 18/9/2023 là 14.140.024 đồng. Trong đó, nợ gốc là 9.366.640 đồng, lãi quá hạn là 4.773.384 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 18/9/2023 ông Nguyễn Phi Đ còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Phi Đ phải chịu 707.001 đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí. Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 306.000 đồng theo biên lai số 0008684 ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5/ Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ