vanban.org

Bản án 117/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2, đối với yêu cầu anh Đặng Văn B v chị Nguyễn Thị L liên đới trả số tiền gốc l 4.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2. Buộc anh Đặng Văn B v chị Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2 số tiền mua thức ăn còn nợ gốc l 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản Huỳnh Tuấn D - Đặng Văn B"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2, đối với yêu cầu anh Đặng Văn B v chị Nguyễn Thị L liên đới trả số tiền gốc l 4.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/DS-ST
Ngày: 31-7-2023
“V/v tranh chấp dân sự về
hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI,

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: B Phạm Th Thi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Ông Nguyễn Văn Tùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Th Xuân Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ng y 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở To án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2023/TLST-DS ng y 02 tháng 02 năm 2023, về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-DS ng y 21 tháng 6 năm 2023 v Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2023/QĐST-DS ng y 11 tháng 7 năm 2023, giữa:

- Nguyên đơn: Huỳnh Tuấn D, sinh năm 1991.

Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2.

Địa chỉ: Số A - A, đường P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.

- Bị đơn:

Đặng Văn B, sinh năm 1985.

Nguyễn Th L, sinh năm 1987.

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Võ Văn H, sinh năm 1981.

Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2.

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Anh Duy, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt; chị L có mặt;

anh B vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại tờ tự khai, biên bản kh ng tiến hành h a giải được và đơn xin vắng mặt phiên t a anh Huỳnh Tuấn D trình bày:

Anh l chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2 (Gọi tắt l : Cửa h ng) chuyên bán thức ăn, hiện nay Cửa h ng của anh vẫn còn hoạt động bình thường. V o ng y 01/10/2022, anh và anh H có thỏa thuận l anh H sẽ chuyển giao to n bộ các khoản nợ của khách h ng nợ anh H (trong đó có khoản nợ của anh B, chị L) qua cho anh v anh được to n quyền quyết định các khoản nợ n y. Trước ng y 01/01/2019, anh B, chị L nhiều lần mua thức ăn của anh H (Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2) để chăn nuôi ếch (cụ thể thời gian từng lần không nhớ). Đến ng y 01/01/2019, hai bên chốt nợ thì anh B v chị L còn nợ tiền thức ăn của anh H tổng cộng l 9.600.000 đồng, có giấy xác nhận nợ. Đối với to n bộ chữ viết, chữ ký v chữ viết ghi họ v tên Nguyễn Thị L trong giấy xác nhận nợ m anh cung cấp cho Tòa án l do chính chị L viết v ký tên. Do anh B không có ở nh nên anh B không có ký tên v o giấy xác nhận nợ. Các giấy tờ mua bán hiện không còn, anh chỉ còn giấy xác nhận nợ m chị L đã ký nhận.

Theo đơn khởi kiện thì anh yêu cầu buộc anh B v chị L liên đới trả cho anh số tiền mua thức ăn còn nợ gốc l 9.600.000 đồng v tiền lãi 4.512.000 đồng (với mức lãi suất l 1%/tháng, 1 tháng l 96.000 đồng x 74 tháng = 4.512.000 đồng), tổng cộng l 14.112.000 đồng.

Tại đơn xin vắng mặt phiên tòa v đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ng y 28/7/2023, anh xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc 4.000.000 đồng v tiền lãi, anh chỉ yêu cầu buộc anh B v chị L liên đới trả cho anh số tiền mua thức ăn còn nợ gốc l 5.600.000 đồng, anh không yêu cầu tính lãi.

Ngoài ra, anh D không còn trình b y hoặc yêu cầu gì khác.

Theo ý ki n tại tờ t khai và iên n l y lời khai anh Đặng Văn B trình bày:

Trước đây anh có mua thức ăn của H1 kinh doanh cửa h ng T2, mua thời gian n o v bao nhiêu lần không nhớ, anh thừa nhận có nợ tiền thức ăn l 9.600.000 đồng. Chữ ký v chữ viết ghi họ v tên Nguyễn Thị L trong giấy xác nhận nợ m nguyên đơn giao nộp l của chị L. Sau khi ký giấy xác nhận thì trong năm 2020, anh có trả cho lính (l nữ không biết họ tên) của chị Mộng T (vợ anh H) và người đó có viết biên nhận cho anh, nhưng biên nhận anh đã bỏ mất. Anh xác nhận còn nợ H1 kinh doanh cửa h ng T2 l 5.600.000 đồng v đồng ý trả số tiền này.

Ngoài ra, anh B không còn trình b y hoặc yêu cầu gì khác.

Theo ý ki n tại iên n l y lời khai và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L trình bày:

Anh B l người mua thức ăn của anh Võ Văn H – Chủ Hộ kinh doanh cửa hàng T2, chị thừa nhận chữ ký v chữ viết ghi họ v tên Nguyễn Thị L trong giấy xác nhận nợ m nguyên đơn giao nộp l do chính chị ký v viết ra. Chị thừa nhận chị v anh B có nợ số tiền 9.600.000 đồng theo giấy xác nhận nợ. Nhưng sau đó anh B đã trả thêm được 4.000.000 đồng (anh B l người trực tiếp trả), khi trả có l m giấy tờ nhưng anh B v chị đã bỏ mất, còn nợ lại số tiền 5.600.000 đồng v chị đồng ý trả số tiền n y cho anh D.

Ngo i ra, chị L không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

Theo ý ki n tại văn n ý ki n anh Võ Văn H trình bày: Vào ngày 01/10/2022, anh và anh D có l m tờ thỏa thuận chuyển giao quyền thu hồi nợ v chữ ký, chữ viết ghi họ v tên Võ Văn H trong tờ thỏa thuận n y l của anh, theo đó các khoản nợ m khách h ng nợ bên anh (trong đó có khoản nợ của anh B, chị L) sẽ chuyển giao lại to n bộ cho anh D. Anh D được to n quyền quyết định đối với các khoản nợ n y. Đối với việc chuyển giao n y thì anh đã có thông báo bằng miệng cho khách h ng. Đồng thời, anh cam kết sẽ không tranh chấp các khoản nợ n y về sau với khách h ng trên. Ngo i ra đối với vụ án n y anh không có yêu cầu gì.

Ngoài ra, anh H không còn trình b y hoặc yêu cầu gì khác.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký v Hội đồng xét xử chấp h nh tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử v o nghị án, cũng như việc chấp h nh các quy định về tố tụng dân sự v thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị đơn chị L đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền v nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật; Bị đơn anh B chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền v nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Căn cứ Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Tuấn D (Chủ Hộ kinh doanh cửa h ng T2) về nợ gốc 4.000.000 đồng v lãi suất.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Tuấn D (Chủ Hộ kinh doanh cửa h ng T2), buộc anh B v chị L có trách nhiệm liên đới trả cho anh D 5.600.000 đồng, không tính lãi suất.

* Tài iệu, ch ng c trong hồ sơ v án gồm:

- Nguyên đơn nộp các t i liệu, chứng cứ gồm:

+ Đơn khởi kiện tên Huỳnh Tuấn D (Bản chính).

+ Tờ tự khai tên Huỳnh Tuấn D (Bản chính).

+ Căn cước công dân (Bản sao).

+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Bản sao).

+ Giấy xác nhận nợ không ghi ng y tháng năm (Bản photo, bản chính).

+ Tờ thỏa thuận chuyển giao quyền thu hồi nợ ghi ng y 01/10/2022 (Bản chính).

+ Đơn xin vắng mặt phiên tòa ng y 28/7/2023 (Bản chính).

+ Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện (Bản chính).

- Bị đơn nộp các t i liệu, chứng cứ gồm:

+ T1 khai tên Đặng Văn B (Bản chính).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp các t i liệu, chứng cứ gồm:

+ Văn bản ý kiến tên Võ Văn H (Bản chính).

+ Đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt tên Võ Văn H (Bản chính).

- Tại liệu, chứng cứ Tòa án thu thập gồm:

+ Biên bản lấy lời khai tên Đặng Văn B ng y 02/6/2023 (Bản chính).

+ Biên bản lấy lời khai tên Nguyễn Thị L ngày 08/6/2023 (Bản chính).

+ Phiếu xác minh (bản chính).

Các t i liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được công khai theo biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ng y 20 tháng 6 năm 2023 v tại phiên tòa.

* Các tình tiết, sự kiện trong v án các bên đương sự thống nhất: Không.

* Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự kh ng thống nhất: To n bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh B v chị L liên đới trả số tiền mua thức ăn còn nợ gốc l 5.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Ngo i ra, các đương sự không ai có yêu cầu n o khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật l tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán t i sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền, Hội đồng xét xử xét thấy: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đang cư trú tại ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 v điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về rút một phần yêu cầu khởi kiện:

Theo đơn khởi kiện ng y 18/11/2022, anh D yêu cầu anh B v chị L liên đới trả số tiền gốc l 9.600.000 đồng v lãi l 4.512.000 đồng, tại đơn xin vắng mặt phiên tòa v đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ng y 28/7/2023 anh D xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền gốc 4.000.000 đồng v tiền lãi 4.512.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của anh D là hoàn to n tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận v đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trả số tiền gốc 4.000.000 đồng v tiền lãi l 4.512.000 đồng l phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ v o khoản 2 Điều 227 v Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh B, anh D và anh H.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh D yêu cầu buộc anh B v chị L liên đới trả cho anh D số tiền mua thức ăn còn nợ gốc l 5.600.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Anh D cho rằng trước đây anh B v chị L nhiều lần mua thức ăn của Hộ kinh doanh cửa h ng T2 do anh H l m chủ v còn nợ anh H số tiền gốc 5.600.000 đồng. Tại tờ tự khai ng y 02/6/2023, biên bản lấy lời khai ng y 02/6/2023 của anh B, tại biên bản lấy lời khai ng y 08/6/2023 v lời khai của chị L tại phiên tòa thì chị L, anh B thừa nhận còn nợ tiền thức ăn của H1 kinh doanh cửa h ng T2 số tiền 5.600.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây l những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, lời trình b y trên của anh D l có cơ sở v việc anh H có bán thức ăn cho anh B v chị L l có thật, vì anh B, chị L thừa nhận có mua thức ăn v còn nợ số tiền 5.600.000 đồng. Ngo i ra, tại văn bản ý kiến anh H thừa nhận v o ng y 01/10/2022, anh H và anh D có l m tờ thỏa thuận chuyển giao quyền thu hồi nợ v chữ ký, chữ viết ghi họ v tên Võ Văn H trong tờ thỏa thuận n y l của anh H, theo đó các khoản nợ m khách h ng nợ bên anh H (trong đó có khoản nợ của anh B v chị L) sẽ chuyển giao lại to n bộ cho anh D. Anh D được to n quyền quyết định đối với các khoản nợ n y.

Đối với anh B đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải v phiên tòa sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy lời trình b y v yêu cầu của nguyên đơn l có căn cứ.

Anh D không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn l có căn cứ v phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên không tiến h nh hòa giải được v phiên tòa sơ thẩm thì đương sự có mặt xác định ngo i lời trình b y v các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì đương sự có mặt không còn chứng cứ n o khác để chứng minh cho yêu cầu của mình v cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ n o khác. Ngo i ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

Về án phí:

- Anh D1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, ho n trả lại cho anh D1 tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

- Anh B v chị L phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những phân tích như trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười l có căn cứ v phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 357, Điều 365, Điều 430, Điều 440 v Điều 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, khoản 2 Điều 244, Điều 271 v Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2, đối với yêu cầu anh Đặng Văn B v chị Nguyễn Thị L liên đới trả số tiền gốc l 4.000.000 đồng v tiền lãi l 4.512.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2.

Buộc anh Đặng Văn B v chị Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2 số tiền mua thức ăn còn nợ gốc l 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ng y có đơn yêu cầu thi h nh án m bên phải thi h nh án chưa thi h nh xong số tiền trên, thì h ng tháng bên phải thi h nh án còn phải chịu lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi h nh án đến khi thi h nh xong.

3. Về án phí:

- Anh Huỳnh Tuấn D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ho n trả lại cho anh Huỳnh Tuấn D - Chủ hộ kinh doanh cửa h ng T2 số tiền 353.000 đồng (Ba trăm năm mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0016991, ng y 11 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

- Anh Đặng Văn B v chị Nguyễn Thị L phải liên đới chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án n y lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền ợi, nghĩa v iên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ