- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Danh Thành lừa đảo - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Danh T 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo Nguyễn Danh T được trừ 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải thi hành 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2022/HS- ST Ngày: 29/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nghệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và ông Đậu Cao Nhu
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 108/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Danh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28/01/2004 tại huyện L, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện L, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Danh T1, sinh năm 1971 và con bà Hồ Thị T2, sinh năm 1978; Anh chị em ruột: có 3 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2022 đến ngày 15/7/2022 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tới nay. Có mặt.
- Bị hại: Anh Trần Văn Y, sinh năm 1981. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Danh T1, sinh năm 1971. Có mặt.
Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện L, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nắm bắt tâm lý của một số người có nhu cầu mua số lô, số đề trên cơ sở kết quả mở thưởng xổ số Miền Bắc nên Nguyễn Danh T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trên mạng xã hội để thu lợi bất chính. Để thực hiện hành vi, Thành sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím của ông Nguyễn Danh T1 gắn thẻ sim số 0352.768.789 để đăng ký tài khoản Zalo mang tên “Nguyễn Danh T”, đồng thời sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Danh T” để đăng bình luận tại các Fanpage Facebook với nội dung: “Nguyễn Danh T là người của công ty xổ số, đã giúp đỡ nhiều người thoát khỏi nợ nần bằng cách bán số lô, số đề”. Trong đoạn bình luận, T có để lại số điện thoại 0352.768.789 đăng kí tài khoản Zalo “Nguyễn Danh T” để người xem có nhu cầu mua số lô, số đề thì liên hệ. Khi có người liên hệ với T mua số, T giới thiệu mình là người của công ty xổ số, cung cấp số lô, số đề chính xác bán lại cho người bị hại với giá tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, tuy thực tế T không phải là người của công ty xổ số. Khi người mua đồng ý, T sẽ yêu cầu người mua chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) số 51510000498069 mang tên “Nguyễn Danh T”. Sau khi nhận được tiền T sẽ gửi các số lô, số đề cho người mua. Mặc dù biết rõ kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng hàng ngày là do quay số ngẫu nhiên, xác suất mỗi ngày và các con số là như nhau và không ai có thể biết trước một cách chính xác. Tuy nhiên để tạo sự tin tưởng cho những người liên lạc mua số thì T luôn khẳng định những con số mình cho đều chuẩn và chính xác nhằm chiếm đoạt tiền của những người mua. Trên thực tế những con số T cung cấp cho người mua chỉ là những con số ngẫu nhiên do T tự nghĩ ra mà không hề có bất kỳ căn cứ nào về tính chính xác.Với hình thức như trên, ngày 01/7/2022, anh Trần Văn Y lên mạng xã hội Facebook thì thấy xuất hiện bình luận trên các Fanpage giới thiệu số điện thoại 0352.768.789 đăng ký tài khoản Zalo có tên “Nguyễn Thành D” là người của Công ty xổ số kiến thiết Miền Bắc, có thể biết kết trước kết quả xổ số, giúp người chơi đánh lô, đề trúng thưởng. Do tin tưởng các nội dung trên là thật nên anh Y đã sử dụng tài khoản Zalo của mình là “Bắt Đầu Từ” để kết bạn với tài khoản Zalo “Nguyễn Danh T” qua số điện thoại 0352.768.789 để nhắn tin, gọi điện thoại với nhau. Qua trao đổi, T yêu cầu anh Y chuyển 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) vào số tài khoản 51510000498069 tại ngân hàng BIDV của T để mua số lô. Đến khoảng 15 giờ ngày 02/7/2022 anh Y nhờ người chuyển cho T 2.000.000 đồng vào số tài khoản trên. Sau khi nhận được tiền, T đã tự nghĩ ra số lô “77” rồi nhắn tin cho anh Y. Tuy nhiên, sau đó qua tìm hiểu, anh Y biết được tài khoản Zalo “Nguyễn Danh T” không phải là người của công ty xổ số như những lời bình luận trên các Fanpage Facebook. Nhận thấy đây là hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức bán số lô, số đề nên anh Y đã đến Công an huyện L trình báo. Sau khi biết hành vi của mình bị tố giác, 10 giờ ngày 12/7/2022 Nguyễn Danh T đã đến Công an huyện L để đầu thú và giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, gắn thẻ sim số 0352.768.789. Quá trình điều tra chứng minh được số tiền mà T lừa đảo chiếm đoạt của anh Y là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).
Cáo trạng số 122/CT-VKS-QL, ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu đã truy tố bị cáo Nguyễn Danh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Danh T từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Không khấu trừ thu nhập, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho ông Nguyễn Danh T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, đã qua sử dụng, số máy MWLX2KH/A gắn thẻ sim số 0352.768.789.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Danh T đã bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Trần Văn Y số tiền 2.000.000 đồng. Hiện tại, anh Y không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Nguyễn Danh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Danh T khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Danh T: Bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi của mình, xin hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai có tại hồ sơ; phù hợp lời khai của người bị hại có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 02/7/2022, thông qua hình thức bán số lô, số đề trên mạng Internet, Nguyễn Danh T đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Trần Văn Y số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Hành vi của bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm sự: tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đầu thú và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Bị cáo phạm tội có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, được chấp nhận.
Thời gian tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Danh Thành có 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ.
Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung, không khấu trừ thu nhập.
Vật chứng vụ án:
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, đã qua sử dụng, số máy MWLX2KH/A gắn thẻ sim số 0352.768.789 là tài sản của ông Nguyễn Danh T1, ông T1 không biết bị cáo sử dụng điện thoại để phạm tội nên trả lại cho ông T1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Danh T đã bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Trần Văn Y số tiền 2.000.000 đồng. Hiện tại, anh Y không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên miễn xét.
Đối với các giao dịch trong tài khoản ngân hàng BIDV số 51510000498069 mang tên “Nguyễn Danh T” có dấu hiệu tội phạm Cơ quan điều tra đã có công văn yêu cầu xác minh và thông báo tìm bị hại nhưng đến nay chưa có kết quả nên sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Đối với anh Trần Văn Y là người đã mua số lô của Nguyễn Danh T nhưng anh Y không dùng số đã mua của T để đánh bạc trái phép nên không phải chịu trách nhiệm.
Đối với ông Nguyễn Danh T1 là người cho Nguyễn Danh T mượn điện thoại để thực hiện hành phạm tội. Quá trình điều tra xác định, ông T1 không biết việc T sử dụng điện thoại của mình để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Nguyễn Danh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b i s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Danh T 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo Nguyễn Danh T được trừ 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải thi hành 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Q, huyện L nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao Nguyễn Danh T cho chính quyền UBND xã Q, huyện L, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho ông Nguyễn Danh T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, đã qua sử dụng, số máy MWLX2KH/A, gắn thẻ sim số 0352.768.789 (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 09/8/2022 giữa cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Nguyễn Danh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CA huyện Quỳnh Lưu; - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu; - THA hình sự; - Sở Tư pháp; - UBND xã Q; - Lưu HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nghệ |