vanban.org

Bản án 117/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Nam Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Công Vũ L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2021/HSST ngày 08-12-2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam. [2] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - Bị truy tố tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:117/2022/HS-PT
Ngày: 24/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Thịnh

Bà Lê Thị Anh Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Khánh Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đệ – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 14/2022/HSPT ngày 21 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Lê Công Vũ L. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Công Vũ L với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2021/HSST ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo kháng cáo: Lê Công Vũ L, sinh ngày: 09/6/1989 tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: 524 HV, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công D (sinh năm - 1958) và bà Lê Thị T (sinh năm 1963); bị cáo có vợ tên: Đặng Thị Hoàng Y (sinh năm 1988) và 01 con (sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Công Vũ L sống chung với ba mẹ là ông Lê Công D và Lê Thị T. Vào khoảng 17 giờ ngày 11/5/2021, bị cáo ra sau nhà để tập hít xà đơn Do bị cấn hai chậu cây cảnh nên L khiêng để tại khu đất trống của hàng xóm là ông Trần Ngọc T. Tập xong, L không khiêng cây trở về mà vào nhà tắm rửa. ăn cơm rối ra phía trước nhà chơi. Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, ông T đi ra sau nhà thì thấy hai chậu cây của nhà L đang để trên phần đất của mình. Do hai bên đang có tranh chấp và không muốn sự việc phức tạp nên ông Tuân qua nhà L, yêu cầu di dời hai chậu cây. Bà Tình đứng gần đó nghe được câu chuyện nhưng không nói gì. Đến khoảng 18 giờ, ông T thấy ông Dũng đang ở trước công nên tiếp tục chạy ra nói: “Anh kéo mấy cái chậu qua để bên đất nhà tôi, anh định giành đất hả” thì ông Dũng đáp lại: “Chị hung rứa em, để đó anh đem về rồi chống nạng đi vào nhà. Bà Tình nghe vậy thì ấm ức trong lòng nên nói lại: “Cái chi mà nhỏ mọn rủa, sống mà cục bộ, có cái chậu bông mà nói họ giành đất” nhưng ông T không nói gì và đi vào nhà. Ông Dũng nghe được nói: "Thôi biết tính Tuấn khó tính mà nói làm chi”, rồi vô phòng nằm nghỉ. Lúc đó, L nghe ba mẹ đang nói về chuyện hai chậu cây và biết ông T qua nhà nói nên bức xúc chạy đến đoạn đất trống giữa hai nhà nói to: “Tuấn mi đâu rồi” và cúi xuống lấy 01 viên gạch loại 06 lỗ ném qua, trúng vào cửa tôn bên hông nhà ông T. Ông T chuẩn bị đi làm, nghe tiếng động nên vào lại nhà để kiểm tra. Đến gần cửa tôn, ông thấy 01 cục gạch loại 06 lỗ, nhìn qua nhà ông Dũng thì thấy bà Tình đang ôm L, còn L đang chửi to. Tuân biết L ném gạch qua nên lấy cục gạch này ném lại phía L nhưng không trúng ai. Tuy nhiên, bà Tình thây viên gạch ném qua hoảng sợ né tránh, bị té đau ở bả vai trái và trây đầu gối phải. Thấy vậy, L chạy vào phòng ông Dũng lấy cây gậy chống nạng của ông Dũng sử dụng để đi lại (bằng inox dài 95cm, phần đầu bọc nhựa dài 27,5cm có tay cầm nhô ra dài 9cm, đường kính 2,7cm; phần đuôi bọc su) rồi quay lại nơi ném gạch, băng qua đoạn đất trồng xông đến nhà ông T. Còn ông Tuân khi thấy L chạy vào nhà với thái độ hung dữ thì lượm 02 viên gạch thẻ gần đó để tự vệ nhưng thấy L cầm gậy thì Tuấn vứt 02 viên gạch và tay phải lấy 01 cái bơm xe đạp (loại bơm tay có vỏ bằng kim loại màu đỏ dài 54cm, đường kính 3,2cm; phần ruột bơm là ống kim loại màu đen; ống dẫn khí băng su màu đen và tay cân bằng nhựa), tay trái lấy 01 con dao mác (dài 60cm có phần lưỡi bằng kim loại dài 27,5cm, rộng nhất 4,2cm, dày nhất 0,5cm, cân bằng gỗ dài 32,5cm, đường kính 03cm) đều để gần đó. Cả hai xông vào nhau, L cầm phần đuôi gậy bằng tay trái đánh 01 cái theo hướng từ trên xuống trung vào mũ bảo hiểm mà ông T đang đội, cụ thể vào phần nhựa cố định bên trái với tấm kính chắn gió làm bể rời 01 mảnh nhỏ kích thước 2,5 x 1cm rối trượt xuống trung vào vai trái. Ông T dùng tay trái cầm dao chém 01 cái theo hướng từ trái sang phải trùng vào bắp tay phải của L. L dùng hai tay cầm đuôi gậy đánh 01 cái theo hướng từ trái sang phải. Ông T cầm bơm bằng tay phải đưa lên đỡ, gậy trúng vào mặt ngoài các ngón tay phải làm bơm văng ra phía bên trái ông T (là bên phai L). L thấy tay trái ông T vẫn còn cầm dao nên tiếp tục dùng hai tay cầm gậy chuyển hướng đánh 01 cái theo hướng từ phải sang trái, ông T đưa tay trái lên đỡ dẫn đến gãy tay. L tiếp tục đánh tiếp 01cái theo hướng vừa đánh trúng vào vùng bụng (thắt lưng) ông T. Lúc này, thấy tay chảy máu nhiều nên L vứt cây gậy lại rồi chạy về nhà, được người thân đưa đi khâu vết thương. Còn ông T vào trong nhà đóng cửa lại đến khi Công an phường đến làm việc. Hậu quả xảy ra: ông T bị chấn thương gãy xương quay cánh tay trái, rách da ngón áp út và mu xương V bàn tay phải, bầm tím tụ máu vùng hông trái và vai trái, bị cáo L bị chấn thương vết cắt hở ngang bắp tay phải.

Theo Bản giám định thương tích số: 182/GĐTT.21 ngày 17/5/2021 và Bản giám định bổ sung thương tích số: 219/GĐTT.21 ngày 15/06/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam thì ông Trần Ngọc T bị thương tích với tỷ lệ là 12% (Mười hai phần trăm); Bản Giám định thương tích số: 183/GĐTT.21 ngày 17/05/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Nam thì bị cáo Lê Công Vũ L bị thương tích với tỷ lệ là 02% (Hai phần trăm).

Tại Cáo trạng số: 46/CT-VKSHA ngày 03 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Lê Công Vũ L về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2021/HSST ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Công Vũ L phạm tội: "Cô gây thương tích, Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Công Vũ L kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Công Vũ L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung; Hành vi dùng cây gậy chống nạng bằng Inox, đánh ông Trần Ngọc T trúng vào vai, tay và vùng thắt lưng gây thương tích với tỷ lệ là 12% (Muời hai phần trăm). Do vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2021/HSST ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam xử phạt bị cáo Lê Công Vũ L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo 18 tháng tù là phù hợp nên Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Viện Kiếm sát nhân dân tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Công Vũ L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản án sơ thẩm đã quy kết.

Xét lời khai của bị cáo Lê Công Vũ L phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của bị hại, kết quả giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Do bực tức từ việc cãi nhau về tranh chấp đất đai của cha mẹ bị cáo với bị hại Trần Ngọc T nên bị cáo đã có hành vi dùng cây gậy chống nạng bằng Inox là hung khí nguy hiểm, đánh bị hại Trần Ngọc T trúng vào vai, tay và vùng thắt lưng gây thương tích với tỷ lệ là 12% (Muời hai phần trăm). Do vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2021/HSST ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành Hội An, tỉnh Quảng Nam xử phạt bị cáo Lê Công Vũ L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Công Vũ L thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo 18 tháng tù là có căn cứ pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo cung cấp: Đơn xác nhận có hoàn cảnh gia đình khoá khăn, là lao động chính trong gia đình, chăm sóc cho cha, mẹ; cha ruột của bị cáo bị tàn tật, bị cáo đang nuôi con nhỏ trong độ tuổi ăn học được chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận; bị cáo cung cấp Giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện của Hội chữ thập đỏ thập Quảng Nam đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án này ngoài thương tích bị cáo gây ra cho bị hại Trần Ngọc T tỷ lệ 12%, trong lúc đánh nhau bị hại Trần Ngọc T đã dùng con dao mác gây thương tích cho bị cáo với tỷ lệ 02%, do bị cáo không yêu cầu khởi tố nên Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bị hại Tuấn với hình thức phạt tiền. Xét bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án tiền sự. có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do vậy không cần thiết phải bắt bị cáo đi chấp chấp hành phạt tù nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Công Vũ L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2021/HSST ngày 08-12-2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

[2] Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Công Vũ L 18 (Mười tám) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (24/5/2022).

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Thanh Hà, Thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Công Vũ L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/5/2022).

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ