vanban.org

Bản án 117/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Bá T đƣợc ly hôn với bà Nguyễn Thị Trí Tr (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 141, quyển số 1/2001 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đ cấp ngày 20/11/2001).

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trí Tr có trách nhiệm giao con chung là cháu Trần Kim A, sinh ngày 19/6/2006 cho ông Trần Bá T tiếp tục nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Bá T không yêu cầu bà Nguyễn Thị Trí Tr cấp dƣỡng nuôi con. Sau ly hôn, bà Nguyễn Thị Trí Tr có quyền chăm sóc, thăm nom,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Bá T đƣợc ly hôn với bà Nguyễn Thị Trí Tr (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 141, quyển số 1/2001 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đ cấp ngày 20/11/2001).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số:117/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Văn Nhung;

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 109/2022/TLST– HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 141/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Bá T, sinh năm 1976; thƣờng trú: Số 27/10, khu phố Q, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trí Tr, sinh năm 1975; thƣờng trú: Số 27/10, khu phố Q, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Bá T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, ông Trần Bá T và bà Nguyễn Thị Trí Tr tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn vào năm 2001 tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đ. Việc kết hôn của ông T và bà Tr là tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình chấp nhận.

Sau khi kết hôn, ông T và bà Tr cùng sinh sống tại: Số 27/10, khu phố Q, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đƣợc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên cãi nhau, không tôn trọng nhau. Vợ chồng nhiều lần cho nhau cơ hội để cùng thay đổi nhƣng đều không có kết quả. Nay ông T xác định không còn tình cảm với bà Tr nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống ông, bà có 02 con chung là cháu Trần Bá Th, sinh ngày 17/10/2002 và Trần Kim A, sinh ngày 19/6/2006. Hiện các con do ông nuôi dƣỡng. Ông T yêu cầu sau ly hôn trực tiếp nuôi con chung là cháu Trần Kim A, không yêu cầu bà Tr cấp dƣỡng nuôi con. Còn con chung là cháu Trần Bá T đã trƣởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Trần Bá T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Trí Tr:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bị đơn có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của nguyên đơn nhƣng bị đơn không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhƣng bị đơn vắng mặt không có lý do, đồng thời nguyên đơn có đơn từ chối hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án triệu tập yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa hai lần nhƣng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi xem xét T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Theo kết quả xác minh ngày 07/4/2022 của Tòa án tại Công an phƣờng B, thành phố D xác định bị đơn bà Nguyễn Thị Trí Tr có đăng ký thƣờng trú tại 27/10, khu phố Q, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B nhƣng đã bỏ đi khỏi địa phƣơng, khi đi không trình báo nên chính quyền địa phƣơng không biết hiện bị đơn cƣ trú tại đâu. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phƣơng tiện thông tin đại chúng để triệu tập bị đơn về làm việc nhƣng bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 05/7/2022 và ngày 13/7/2022 nhƣng bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Bá T và bà Nguyễn Thị Trí Tr là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đ vào ngày 20/11/2001 theo giấy chứng nhận kết hôn số 141, quyển số 01/2001 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình tố tụng, ông T xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn cụ thể là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên cãi nhau, không tôn trọng nhau. Vợ chồng nhiều lần cho nhau cơ hội để cùng thay đổi nhƣng đều không có kết quả. Quá trình tố tụng, Tòa án triệu tập bà Tr đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T và cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án nhƣng bà Tr không đến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Điều này chứng tỏ bản thân bà Tr cũng không muốn vợ chồng có cơ hội để đoàn tụ với nhau, còn ông T xác định không còn tình cảm với bà Tr. Nhƣ vậy, tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà Tr đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, ông T yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống ông T xác định có 02 con chung là cháu Trần Bá Th, sinh ngày 17/10/2002 và Trần Kim A, sinh ngày 19/6/2006. Hiện các con chung do ông T nuôi dƣỡng. Ông T yêu cầu sau ly hôn trực tiếp nuôi con chung là cháu Trần Kim A, không yêu cầu bà Tr cấp dƣỡng nuôi con. Còn con chung là cháu Trần Bá Th đã trƣởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm quyền lợi của con chƣa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng bà Tr không có ý kiến thể hiện nguyện vọng mong muốn nuôi con chung hay không, bà Tr đã bỏ nhà đi hiện không rõ cƣ trú tại đâu. Hiện con chung do ông T nuôi dƣỡng. Qua đó thấy rằng việc giao con chung cho ông T nuôi dƣỡng là phù hợp với nguyện vọng của nguyên đơn và cháu Ánh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dƣỡng: Ông Trần Bá T tự nguyện không yêu cầu bà Nguyễn Thị Trí Tr cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Trần Bá T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về chi phí đăng thông báo: Nguyên đơn ông Trần Bá T tự nguyện chịu T bộ chi phí với số tiền 2.101.600 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.

Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Bá T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Bá T đƣợc ly hôn với bà Nguyễn Thị Trí Tr (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 141, quyển số 1/2001 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đ cấp ngày 20/11/2001).

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Trí Tr có trách nhiệm giao con chung là cháu Trần Kim A, sinh ngày 19/6/2006 cho ông Trần Bá T tiếp tục nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Bá T không yêu cầu bà Nguyễn Thị Trí Tr cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, bà Nguyễn Thị Trí Tr có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con. Ông Trần Bá T không có quyền cản trở bà Nguyễn Thị Trí Tr thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Trần Bá T không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Về chi phí đăng thông báo: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Bá T tự nguyện chịu T bộ chi phí thông báo trên phƣơng tiện thông tin đại chúng số tiền 2.101.600 đồng (Hai triệu một trăm lẻ một nghìn sáu trăm đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Bá T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003524 ngày 01/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ