vanban.org

Bản án 117/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H. Chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Hoàng Kim L.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Thùy Nh, sinh ngày 08-3-2014 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Thu H ly hôn với Hoàng Kim L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H. Chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Hoàng Kim L.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 117/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Bích Ngọc

2. Bà Trần Thị Yến Nh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 290/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1994

Địa chỉ: ấp 2, xã X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai

Bị đơn: Anh Hoàng Kim L, sinh năm 1990

Địa chỉ: ấp 2, xã X, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

(chị H có đơn xin vắng mặt, anh L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2022; lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn là chị Trần Thị Thu H trình bày:

Về hôn nhân: Chị H và anh L sau thời gian tìm hiểu yêu thương thì tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Xuân và được cấp Giấy chứng nhận ngày 09/9/2013. Trong thời gian sống chung thì vợ chồng thường hay xayra cãi vã, xung đột, vợ chồng chị đã Nhều lần nói chuyện để Hn gắn nhưng không được. Từ tháng 4.2022 cho đến nay chị và anh L đã không còn sống chung với nhau. Nay chị H không còn tình cảm yêu thương với anh L nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Có 01 con chung là Hoàng Thùy Nh, sinh ngày 08-3-2012. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Nh và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Kim L: Sau khi Tòa án tiến Hnh thụ lý vụ án đã tiến Hnh tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh Hữu vẫn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án tại các buổi làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể tiến Hnh ghi nhận ý kiến của anh Hữu.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến Hnh tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp Hnh đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H. Cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Hoàng Kim L.

- Về con chung: Giao hai con chung là Hoàng Thùy Nh, sinh ngày 08-3-2014 cho chị H nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu.

- Về tài sản chung; Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có phát sinh tranh chấp.

- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Hoàng Kim L cư trú tại khu 1, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Chị H yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Hoàng Kim L, tranh chấp nuôi hai con chung là Hoàng Thùy Nh, sinh ngày 08-3-2014 nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về xác định tư cách đương sự: chị Trần Thị Thu H là nguyên đơn; anh Hoàng Kim L là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến Hnh tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh L vắng mặt mà không có lý do chính đáng; chị H có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị H, anh L tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 09/9/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Xuân. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H, anh L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Đời sống hôn nhân của chị H, anh L không thật sự hạnh phúc, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã, xung đột. Hiện nay chị H, anh L đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng việc này phù hợp với biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng. Từ những lý do nêu trên, xác định được chị H, anh L trong quá trình sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh L là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy từ khi chị H, anh L không còn sống chung thì con chung do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, cháu được đi học và sống trong môi trường đảm bảo các điều kiện phát triển tốt về mọi mặt, ngoài ra các cháu đều là bé gái nên cần sự quan tâm, yêu thương và chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung Hoàng Thùy Nh, sinh ngày 08-3-2014 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 147, 207, 220, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 85, 91, 92, 93 luật hôn nhân gia đình năm 2000;

Căn cứ các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H. Chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Hoàng Kim L.

- Về con chung: Giao cháu Hoàng Thùy Nh, sinh ngày 08-3-2014 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

- Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002610 ngày 29/6/2022 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Tân Phú. Chị H đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thu H và anh Hoàng Kim L vắng mặt tại phiên tòa, nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.

Cỡ chữ