vanban.org

Bản án 117/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 227; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn M. 2/ Về nuôi con chung: Xử giao chị Đỗ Thị H nuôi con chung là Nguyễn Phương C, sinh ngày 20/7/2018; buộc anh Nguyễn Văn M phải có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con cho chị H là 2.000.000đ/tháng để chị H nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 28; 35; 147; 227; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-12-2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi

Các hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Văn Thanh

Ông: Nguyễn Quang Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 30/12/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 466/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2022/QĐXXST-DS ngày 19/12/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1994 (có mặt);

Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã H, huyện Lạng Giang,tỉnh Bắc Giang.

Hiện cư trú: Thôn Ố, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1975 (có mặt);

Nơi cư trú: Thôn H, xã H,huyện Lạng Giang,tỉnhBắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn M ngày 01/8/2018, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 7/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường sảy ra mâu thuẫn cãi nhau, không đồng nhất quan điểm, không hòa thuận được để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 7/2022. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh M.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Phương C, sinh ngày 20/7/2018. Hiện con đang ở cùng chị cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn chị xin nuôi con, yêu cầu anh M góp cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/1 tháng kể từ sau khi ly hôn đến khi con tròn 18 tuổi. Hiện chị đang làm công nhân tại công ty may Bắc Giang LGG địa chỉ, khu cầu đồng, cụm công nghiệp xã Nghĩa Hòa, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000đ/ 1 tháng. Trước đây chị đã lấy chồng năm 2013 về thôn Ấp L, xã L, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, vợ chồng ly hôn cuối năm 2017 và có 1 con là Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 19/7/2014 khi ly hôn chị nuôi cháu H. Hiện chị cùng cháu H và cháu Nguyễn Phương C đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ chị tại Thô Ố, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, điều kiện kinh tế gia đình bình thường. Nếu được nuôi con chung, chị cam đoan sẽ chăm sóc và nuôi dưỡng con tốt.

Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết, nếu sau này không tự thỏa thuận được chị sẽ đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày: Chị H trình bày về thời gian kết hôn và quá trình mâu thuẫn là đúng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn chị H. Về con chung, như chị H trình bày là đúng, nay ly hôn anh xin nuôi con chung là Nguyễn Phương C, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Trước đây anh đã lấy vợ năm 2000 là Nguyễn Thị H và sinh được 1 con chung là Nguyễn Thanh M sinh ngày 17/8/2001, đến năm 2004 vợ anh (chị H) chết, hiện cháu M đang ở cùng anh, cháu M đã lớn trưởng thành trên 18 tuổi, khỏe mạnh phát triển bình thường đang ở nhà giúp việc chăn nuôi, quản lý công việc trong gia đình. Anh có xe ô tô riêng làm nghề lái taxxi, ai thuê thì chở, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000đ/1 tháng, hiện anh và cháu M đang ở nhờ cùng mẹ đẻ anh tại thôn H, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, điều kiện kinh tế gia đình khá giả. Nếu được nuôi con con chung (Nguyễn Phương C) anh cam đoan sẽ đảm bảo việc chăm sóc và nuôi dưỡng con tốt.

Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay chị H có mặt giữ nguyên yêu cầu trên và trình bày thêm: Hiện anh M đang nuôi con riêng là Nguyễn Thanh M, cháu M bị khuyết tật từ bé. Anh M có mặt, trình bày thêm: Cháu Nguyễn Thanh M bị khuyết tật bẩm sinh từ nhỏ do bệnh suy tim, hiện cháu M đang được hưởng chế độ người khuyết tật, hàng tháng được trợ cấp 1.080.000đ/tháng.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân, các đương sự trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị H và anh M đều có mặt. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoài với anh Minh; Về con chung: Xử giao chị Hoài nuôi con chung là Nguyễn Phương C, sinh ngày 20/7/2018, anh M phải có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con cho chị Hoài là 2.000.000đ/tháng để chị H nuôi con, kể từ tháng 01/2023 đến khi con tròn 18 tuổi; Về tài sản: Cả chị H và anh M đều không đề nghị giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Ngoài ra còn đề nghị xem xét xử lý tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Đỗ Thị H, sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Hiện cư trú: Thôn Ố, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Chị H xin được ly hôn anh M, đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị giải quyết về tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, đề nghị xin được ly hôn, đề nghị giải quyết về con chung và cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị giải quyết về tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị H và anh M đều có mặt. Nên HĐXX áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn M ngày 01/8/2018, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến tháng 7/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo được nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 7/2022. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn cả chị H và anh M đều xin được ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc thỏa thuận xin được thuận tình ly hôn của chị H và anh M là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội cần chấp nhận. Xét là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhânvàgiađìnhnăm 2014.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị H và anh M sinh được một con chung là Nguyễn Phương C, sinh ngày 20/7/2018, hiện con đang ở cùng chị H, cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn cả chị H và anh M đều xin được nuôi con. HĐXX xét thấy các bên đều có điều kiện nuôi con như nhau, tuy nhiên cháu Nguyễn Phương C còn nhỏ cần phải có sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, nên để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ, cần giao chị H nuôi con chung; buộc anh M phải có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con cho chị H là 2.000.000đ/tháng để chị H nuôi con, kể từ tháng 01/2023 đến khi con tròn 18 tuổi, anh M được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này, xét là phù hợp Điều 81; 82; 83; 110; 116; 117 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về thay đổi nuôi con và mức góp cấp dưỡng nuôi con, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án và tài phiên tòa hôm nay cả chị H và anh M đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị H, anh M phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 227; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 55; 81; 82; 83; 110; 116; 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn M.

2/ Về nuôi con chung: Xử giao chị Đỗ Thị H nuôi con chung là Nguyễn Phương C, sinh ngày 20/7/2018; buộc anh Nguyễn Văn M phải có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con cho chị H là 2.000.000đ/tháng để chị H nuôi con, kể từ tháng 01/2023 đến khi con tròn 18 tuổi; anh M được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

3/ Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000943 ngày 13/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử sơ thẩm công khai./.

Cỡ chữ