- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Như H đối với anh Chế Hữu Tr.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28-9-2022 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Huy Cường
2. Bà Trần Ánh Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá Xanh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 403/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1994
Địa chỉ: Ấp CA, xã Kh, huyện TT, tỉnh CM;
Tạm trú: Ký túc xá Công ty Trách nhiệm hữu hạn Gain Lucky Việt Nam, ấp P, xã PĐ, huyện G, tỉnh T.
- Bị đơn: Anh Chế Hữu Tr, sinh năm: 1988
Địa chỉ: Ấp 4, xã Ph, huyện CL, tỉnh Đ;
Tạm trú: Nhà trọ Hoàng Chương, ấp 4, xã B, huyện G, tỉnh T.
Chị H và anh Tr đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06-7-2022, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Chế Hữu Tr chung sống với nhau từ năm 2012, có qua tìm hiểu trước, hôn nhân tự nguyện. Chị và anh Tr có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện CL, tỉnh Đ.
Sau khi kết hôn, chị và anh Tr thuê nhà trọ sinh sống và đi làm. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Tr cờ bạc. Chị đã nhiều lần khuyên nhưng anh Tr vẫn không từ bỏ nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Tháng 7-2022, chị chuyển vào Ký túc xá Công ty Gain Lucky ở nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hiện tại, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Tr không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh Tr.
Về nuôi con: Chị và anh Tr có 01 người con chung tên Chế Khánh V, sinh ngày 29-7-2015. Hiện cháu V đang ở cùng với ông bà nội. Chị đồng ý giao cho anh Tr được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị và anh Tr chung sống không có tài sản chung.
Về nợ chung: Anh chị không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Chế Hữu Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nộp cho Tòa án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, còn anh Tr thì chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Như H đối với anh Chế Hữu Tr;
Về con chung: giao cho anh Tr được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Chế Khánh V, sinh ngày 29-7-2015. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như H có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn anh Chế Hữu Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Như H và anh Chế Hữu Tr là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị H thì nguyên nhân chính là do anh Tr đam mê cờ bạc. Từ khi chị H nộp đơn ly hôn đến nay, mặc dù có thông báo cho anh Tr biết và anh Tr đã được Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, tham gia hòa giải và xét xử nhưng anh Tr vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H. Từ các chứng cứ trên cho thấy, mâu thuẫn của anh chị trở nên trầm trọng, anh Tr cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không còn đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh Tr là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con:
Anh chị có 01 người con chung tên Chế Khánh V, sinh ngày 29-7-2015. Hiện cháu V đang sống chung với anh Tr và cha mẹ ruột của anh Tr. Chị H đồng ý giao cho anh Tr được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Xét yêu cầu của chị H thì thấy: Từ năm 2017, chị H và anh Tr thuê nhà trọ sinh sống và làm việc tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh thì cháu V do cha mẹ ruột của anh Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc. Những ngày nghỉ, ngày lễ chị H và anh Tr về thăm nom con chung. Tuy chị H và anh Tr phát sinh mâu thuẫn nhưng anh Tr vẫn phụ tiền hàng tháng để chị H nuôi con. Từ khi chị H và anh Tr sống ly thân, cháu V vẫn do cha mẹ ruột của anh Tr nuôi dưỡng. Nay để tiện việc học hành của cháu V, chị H đồng ý giao cho anh Tr được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy anh Tr không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với việc nuôi con nhưng anh Tr có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, giáo dục con chung và nguyện vọng của cháu V là được sống cùng với anh Tr. Do đó, Hội đồng xét xử cần giao cho anh Tr được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị H và anh Tr không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị H khai không có. Chị H và anh Tr đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
Về nợ chung: Chị H khai không có. Chị H và anh Tr đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về án phí: Chị H phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Như H đối với anh Chế Hữu Tr. Chị Nguyễn Thị Như H được ly hôn với anh Chế Hữu Tr.
2. Về nuôi con: Giao cho anh Tr được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Chế Khánh V, sinh ngày 29-7-2015. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà đã nộp theo biên lai thu số 0024530 ngày 18-7-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - Chi cục THADS huyện Gò Dầu; - Ủy ban nhân dân xã Phương Thịnh, H. Cao Lãnh, T. Đồng Tháp; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) TRẦN THỊ KIM CƯƠNG |