- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
- Tòa quyết gì? năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 117/2022/DS-ST Ngày: 16-9-2022 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Ngọc Liêm
2. Bà Nguyễn Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét
xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 218/2022/TLST-DS ngày 01 tháng
7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 457/2022/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2022 và Quyết định
hoãn phiên tòa số: 438/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Th M L, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp Tây
Thượng, xã MH, huyện CM, tỉnh AG(có mặt).
- Bị đơn: Bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú), sinh năm 1979; địa chỉ: ấp BP,
xã BPX, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tự khai của bà Huỳnh Th M L trong quá trình giải
quyết vụ án trình bày:
Do chỗ hàng xóm quen biết nên bà Huỳnh Th M L có tham gia 01 dây hụi
do bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú) làm chủ hụi, cụ thể như sau:
Hụi 1.000.000 đồng/tháng, hụi hưởng hoa hồng 500.000 đồng/lần, khởi sự
ngày 02/4/2020al (có nhuần 02 tháng 4), hụi kết thúc ngày 25/4/2022al, hụi gồm 20 phần và 12 hụi viên, bà Linh có tham gia 03 phần, (trên giấy hụi thể hiện tên chị Linh). Dây hụi này bà Linh có góp được 08 lần, đến lần thứ 09 thì bà Chi tuyên bố bể hụi. Do đó, dây hụi này bà Linh được hưởng với số tiền: 08 lần x 1.000.000 đồng x 03 phần = 24.000.000 đồng (đã có lãi hụi).
Nay bà Linh yêu cầu bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú) có nghĩa vụ trả cho
bà Linh số tiền nợ hụi trong dây hụi mà bà đã góp là 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng), không yêu cầu tính lãi suất.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sồ hộ khẩu gia đình (bản sao); danh sách hụi viên ngày 02/4/2020al (bản photo).
Bị đơn: Bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú) đã được tống đạt hợp lệ Thông
báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bà đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà Chi vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
Tại phiên tòa:
Bà Huỳnh Th M L vẫn giữ quan điểm như đã trình bày, và không giao
nộp thêm tài liệu chứng cứ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
- Đối với nguyên đơn: Bà Huỳnh Th M L, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên
tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn: Bà Huỳnh Ngọc Chi từ khi thụ lý vụ án, đã được Tòa án
thực hiện thủ tục niêm yết đúng quy định nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Linh nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp quy định Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hợp đồng hụi giữa bà Chi và bà Linh được xác lập trên cơ sở
tự nguyện, thỏa thuận, được thể hiện qua giấy hụi do bà Chi lập, ký tên, bà Linh tham gia với tư cách hụi viên với tên gọi “Linh”. Quá trình tham gia dây hụi, do bà Chi ngưng khui hụi và tuyên bố vỡ hụi. Bà Linh có yêu cầu bà Chi trả tiền hụi nhưng bà không thực hiện, do đó có cơ sở xác định giữa bà Chi, bà Linh có tồn tại giao dịch hụi. Do bà Chi vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Linh yêu cầu bà Chi trả số tiền 24.000.000 đồng là phù hợp Điều 471 Bộ luật Dân sự.
Đối với yêu cầu rút lại yêu cầu tính lãi suất của bà Linh là sự tự nguyện
của bà nên cần đình chỉ theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những phân tích trên, căn cứ các Điều 471 Bộ luật Dân sự, Điều 217,
244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Công nhận hợp đồng góp hụi giữa bà Huỳnh Th M L với bà Huỳnh
Ngọc Chi.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Th M L.
- Buộc bà Huỳnh Ngọc Chi trả cho bà Huỳnh Th M L số tiền 24.000.000
đồng.
- Đình chỉ đối với yêu cầu tính lãi suất của bà Huỳnh Th M L đối với số
tiền 24.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn bà Huỳnh Ngọc
Chi (Cẩm Tú) về hợp đồng góp hụi được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015; và bị đơn có nơi cư trú: xã Bình Phước Xuân, huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý, giải
quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú)
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó, Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú) theo quy định tại khoản 2
Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án:
Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng góp hụi, trên cơ
sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời trình bày của nguyên đơn; căn
cứ vào danh sách hụi viên ngày 02/4/2020al, giữa hụi viên bà Huỳnh Th M L và
chủ hụi bà Huỳnh Ngọc Chi, thì thấy, theo danh sách hụi thể hiện “chị Linh” có
tham gia giao dịch hụi do bà Chi làm chủ hụi. Hội đồng xét xử xác định giữa bà
Linh với bà Chi có ký kết hợp đồng góp hụi giữa hai bên phù hợp với quy định
của pháp luật. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, do bà Chi tuyên bố bể
hụi, nhưng bà Chi không trả số tiền hụi khi bà Linh có yêu cầu là vi phạm nghĩa
vụ thanh toán được quy định tại Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, lời khai ngày 09/8/2022 do ông Phạm Công Khanh trình bày có tham
gia các dây hụi cùng với bà Huỳnh Th M L do bà Huỳnh Ngọc Chi làm chủ hụi, hiện nay bà Chi còn nợ bà Linh tổng số tiền 01 dây hụi là 24.000.000 đồng nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Xét thấy, bà Huỳnh Ngọc Chi trong suốt quá trình giải quyết vụ án,
mặc dù Tòa đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn bà Chi vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó, đủ căn cứ để xác định nguyên đơn có tham gia hụi do bị đơn bà Huỳnh Ngọc Chi làm chủ hụi và hiện nay bà Chi còn nợ lại bà Linh số tiền là 24.000.000 đồng. Do bà Chi vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi nên theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận. Buộc bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú) có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Th M L số tiền là 24.000.000 đồng là phù hợp.
Về lãi suất: Bà Linh xin rút yêu cầu, việc nguyên đơn xin rút một phần
yêu cầu tính lãi là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu tiền lãi là phù hợp.
Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp
nhận nên hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn. Bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 227; khoản 2 Điều 219; 244; Điều 147,
Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 và Điều 357; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Th M L đối với bà Huỳnh
Ngọc Chi (Cẩm Tú).
Buộc bà Huỳnh Ngọc Chi (Cẩm Tú) có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Th
M L số tiền 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Th M L về tiền lãi suất phát
sinh trên số tiền 24.000.000 đồng đối với bà Huỳnh Ngọc Chi.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bà Huỳnh Ngọc Chi phải chịu 1.200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ
thẩm.
3.2. Hoàn lại 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà
Huỳnh Th M L theo biên lai thu số 0004820 ngày 01/7/2022 tại Chi cục thi hành
án dân sự huyện Chợ Mới.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các
đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An
Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật
thi hành.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |