vanban.org

Bản án 117/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 01/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vũ đình hảo - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TP. HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 117/2021/HS-ST

Ngày: 24/09/2021

HUYỆN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TP. HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vân. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Hạ. Ông Doãn Văn Sáng. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo: Vũ Đình H, sinh năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình Mâng và bà Đinh Thị Hường; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 01/6/2021 đến ngày 07/6/2021 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 08 giờ ngày 01/6/2021, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển kết hợp đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công

an huyện Tkết hợp và Công an xã L làm nhiệm vụ tại đường liên thôn thuộc thôn Bảo Kiếm, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng phát hiện Vũ Đình H có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ tại lòng bàn tay trái của H 03 gói giấy bên trong đều chứa chất bột màu trắng (nghi chất ma túy); tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 15G1-516.55 của H. Tổ công tác đã đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đình H khai: Do bản thân nghiện ma túy chưa cai được, khoảng 07 giờ ngày 01/6/2021, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15G1- 516.55 sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, H mua của 01 nam thanh niên không quen biết 03 gói ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. H cầm số ma túy mua được trên tay rồi điều khiển xe đi về nhà, khi đến thôn Bảo Kiếm, xã L, huyện Tthì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tkhông thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 353/KLGĐ ngày 06/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của H là ma túy, có khối lượng 0,55 gam, loại Heroine. Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật; 01 xe mô tô biển kiểm soát 15G1-516.55 của bị cáo chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tquản lý. Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSTN ngày 13/9/2021 Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng đã truy tố Vũ Đình H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Đình H khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, do nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi đi mua ma túy và cất giấu để sử dụng cho bản thân, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo H đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,55 gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Đình H từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý

vật chứng áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật; tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 15G1-516.55. Buộc bị cáo Vũ Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: - Về tố tụng: [1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. - Về tội danh và điều luật áp dụng: [3]. Bị cáo Vũ Đình H đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,55 gam để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là cố ý và nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật bảo vệ, vi phạm Luật phòng chống ma túy, tiếp tay cho hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và là nguyên nhân gây nên các loại tội phạm khác. Với hành vi nêu trên, bị cáo H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng. - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất vụ án, nhan thân và hình phạt: [4]. Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần cho bị cáo H hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những tình tiết trên, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt và buộc

bị cáo chấp hành tại trại giam trong một thời hạn nhất định nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. [5]. Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo H là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. - Về xử lý vật chứng: [6]. Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì xác định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 15G1-516.55 của bị cáo không liên quan đến phạm tội, cần trả lại cho bị cáo. [7]. Trong vụ án này, đối tượng bán trái phép chất ma túy cho Vũ Đình H, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý. [8]. Về án phí: Bị cáo Vũ Đình H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. [9]. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Vũ Đình H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 01/6/2021. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật, dấu niêm phong số 353MT/PC09. Trả lại cho bị cáo Vũ Đình H 01 xe mô tô biển kiểm soát 15G1- 516.55 (không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe, xe đã qua sử dụng) nhãn hiệu Honda Wave.

(Vật chứng có đặc điểm được mô tả tại Phiếu nhập kho số NK2021/113 ngày 13/9/2021 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/9/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng). Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Vũ Đình H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo Vũ Đình H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ