vanban.org

Bản án 117/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hồ Ngọc S và Nguyễn Đức Khánh D phạm tội Vận chuyển hàng cấm.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Ngọc S 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2020. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Khánh D 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Ngọc S - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hồ Ngọc S và Nguyễn Đức Khánh D phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2021/HS-ST
Ngày 24 – 5 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Châu Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh;

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Hồ Ngọc S, sinh năm 1980 tại tỉnh Long An; chỗ ở: Khu vực 5, thị trấn H, huyện H, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H và bà Nguyễn Lệ D; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thu T, có 02 con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 26/12/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Nguyễn Đức Khánh D, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu vực 5, thị trấn H, huyện H, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Hồ Thị H; bị cáo có vợ tên Bùi Thị Hồng T, có 02 con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 26/12/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiền tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1990; Địa chỉ: 88 đường 16, khu phố 3, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, nay là phường K, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 25/12/2020 tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, người tên T (không rõ nhân thân) sống ở khu vực cửa khẩu Thomo thuộc huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thuê bị cáo S vận chuyển thuốc lá nhập lậu từ huyện Đức Huệ tỉnh Long An về thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tiền công là 1.400.000 đồng, bị cáo S đồng ý. Sáng ngày 26/12/2020, bị cáo S rủ bị cáo D cùng vận chuyển thuốc lá nhập lậu, bị cáo S trả tiền công cho bị cáo D 200.000 đồng thì bị cáo D đồng ý. Bị cáo S chở bị cáo D trên xe máy không biển số (không thu giữ được) đến bãi đất trống thuộc thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tại đây, Sơn cất giấu xe gắn máy vào bụi cây rậm và nhìn thấy xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu Toyota, loại Vios, biển số 51F-966.07 (gọi tắt là xe ô tô biển số 51F-966.07) để sẵn tại đây. Một lúc sau, 04 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô chở thuốc lá điếu nhập lậu gồm 8.000 bao các loại đến giao cho bị cáo S mang lên xe ô tô biển số 51F-966.07. Sau đó, bị cáo S và bị cáo D trực tiếp mang thuốc chất vào xe ô tô biển số 51F-966.07, bị cáo S điều khiển xe ô tô chở thuốc lá điếu nhập lậu và bị cáo D ngồi bên phụ xe để vận chuyển toàn bộ số thuốc lá nhập lậu về thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo S điều khiển xe ô tô biển số 51F-966.07 cùng bị cáo D chở thuốc lá điếu nhập lậu lưu thông trên đường Lê Minh Nhựt đoạn ấp Mũi Lớn 1, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an huyện Củ Chi kiểm tra phát hiện, bắt quả tang bị cáo S và bị cáo D vận chuyển 8.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm 6.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet và 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero và thu giữ toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu cùng phương tiện là xe ô tô biển số 51F-966.07.

Ngày 08/3/2021, Hiệp hội thuốc lá Việt Nam có Công văn số 44/CV-2021 HHTLVN phúc đáp Công văn số 583/CSĐT (KT) ngày 02/3/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ chi về việc đề nghị giám định thuốc lá điếu nhập lậu, như sau: thuốc lá nhãn hiệu Jet và Hero do cơ quan cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ sự việc giống như bản cáo trạng nêu.

Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKS.CC ngày 22/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hồ Ngọc S và Nguyễn Đức Khánh D ra trước Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về tội: “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà trong phần luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên toà tiếp tục khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Ngọc S và Nguyễn Đức Khánh D, tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố thể hiện trong cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hồ Ngọc S với mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù và bị cáo Nguyễn Đức Khánh D với mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về vật chứng:

- Trả lại 01( một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota; Biển số: 51F-966.07; Số khung: RL4B29F37G5003940; Số máy: 2NRX071477 (xe đã qua sử dụng)

-Tịch thu tiêu hủy 6.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet (Còn nguyên bao, không kiểm tra bên trong); 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero (Còn nguyên bao, không kiểm tra bên trong); 13 (mười ba) cái túi ni lông màu trắng (đã qua sử dụng).

Tại phiên toà trong lời nói sau cùng bị cáo Hồ Ngọc S và Nguyễn Đức Khánh D đã thấy được hành vi của mình là sai trái mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh:

Qua diễn biến tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên toà phù hợp với các tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy có cơ sở xác định: Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 26/12/2020 tại địa điểm đường Lê Minh Nhựt, đoạn thuộc ấp Mũi Lớn 1, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo S và Duy bị bắt quả tang khi đang điều khiển xe ô tô biển số 51F-966.07 vận chuyển 8.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội Vận chuyển hàng cấm, phạm vào điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của nhà nước về trật tự quản lý kinh tế mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của người dân tại địa phương.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo nhận thức rõ vận chuyển hàng cấm bị Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên thực hiện nhằm thỏa mãn mục đích cá nhân của các bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý các bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết có như thế mới phát huy tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với người đàn ông tên T và 04 thanh niên chở thuốc lá điếu nhập lậu giao cho bị cáo S và bị cáo D, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu, đã khai báo thành khẩn trong quá trình điều tra làm rõ vụ án; cũng như tại phiên toà và trong lời nói sau cùng thể hiện các bị cáo đã có sự ăn năn hối cải, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về thực hiện hoạt động tố tụng: Qua diễn biến phiên toà cũng như kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử chưa ghi nhận có việc khiếu nại hoặc phản ánh tại phiên toà về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và luật sư. Quá trình điều tra, truy tố các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền do luật định.

Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:

- 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota; Biển số: 51F-966.07; Số khung: RL4B29F37G5003940; Số máy: 2NRX071477 (xe đã qua sử dụng) do bà Nguyễn Thị Thanh L đứng tên đăng ký xe, bà L cho bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1975, địa chỉ: ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thuê xe không biết các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, qua xác minh tại ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An không có ai tên Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1975, bà L yêu cầu xin lại xe nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại xe cho bà L là phù hợp.

- Hội đồng xét xử xét cần tịch tiêu hủy 6.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet (Còn nguyên bao, không kiểm tra bên trong); 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero (Còn nguyên bao, không kiểm tra bên trong);13 (mười ba) cái túi ni lông màu trắng (đã qua sử dụng).

Về án phí: Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án để buộc các bị cáo phải chịu khoản tiền chi phí tố tụng hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Hồ Ngọc S và Nguyễn Đức Khánh D phạm tội Vận chuyển hàng cấm.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Ngọc S 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2020.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức Khánh D 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2020.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 6.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet (Còn nguyên bao, không kiểm tra bên trong); 1.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Hero (Còn nguyên bao, không kiểm tra bên trong);13 (mười ba) cái túi ni lông màu trắng (đã qua sử dụng).

Trả lại 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota; Biển số: 51F-966.07; Số khung: RL4B29F37G5003940; Số máy: 2NRX071477 (xe đã qua sử dụng) cho bà Nguyễn Thị Thanh L.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Buộc các bị cáo Hồ Ngọc S và Nguyễn Đức Khánh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ