vanban.org

Bản án 117/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị T.

Chấp nhận cho chị Thị T được ly hôn với anh Thổ H. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01 ngày 13/3/2009 do Ủy ban nhân dân xã B , thị xã L, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 27-10-2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HXÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Đức Anh

2. Ông Nguyễn Lương Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 598/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thị T, sinh năm: 1989

Địa chỉ: ấp L, xã Bảo Q, thành phố L , tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Thổ H, sinh năm: 1989

Địa chỉ: ấp Th, xã Xuân Th, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thị T trình bày: Chị và anh Thổ H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân xã B , thị xã L, tỉnh Đồng Nai.

Cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 5/2010 đến nay. Trong thời gian không sống chung, anh chị không H giải, không hàn gắn, mạnh ai người đó sống. Hiện nay do thời gian sống ly thân đã lâu, chị không còn tình cảm gì với anh H nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: anh chị có 01 con chung là cháu Thổ Thanh B, sinh ngày: 09/10/2008. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Thổ Thanh B và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Thổ H trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn. Cuộc sống vợ chồng anh chị không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống nên thường cãi vã. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2010 đến nay. Từ khi không sống chung, anh chị đã không quan tâm đến nhau, hiện nay hai người đều có cuộc sống riêng, không còn tình cảm vợ chồng nên anh H đồng ý ly hôn với chị T.

Quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung như chị T trình bày. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu Thổ Thanh B, sinh ngày 09/10/2008 cho chị Thị T trực tiếp nuôi dưỡng vì trước nay cháu B toàn ở với chị T, anh H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Thị T, anh Thổ H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh Hlà phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã B , thị xã L, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị T khai cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 5/2010 đến nay. Trong thời gian không sống chung, anh chị không H giải, không hàn gắn, mạnh ai người đó sống. Anh H cũng thừa nhận cuộc sống chung của anh chị hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã. Anh chị không còn chung sống từ tháng 5/2010 đến nay vì từ khi vợ chồng ly thân đã không còn quan tâm đến nhau, hiện nay hai người đều có cuộc sống riêng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu được ly hôn, anh H đồng ý. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Thổ Thanh B, sinh ngày 09/10/2008. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Thổ Thanh B. Xét thấy, cháu B có nguyện vọng được sống với mẹ, mặt khác cháu B đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng không còn chung sống từ tháng 5/2020 đến nay nên giao cháu Thổ Thanh B cho chị Thị T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T tạm thời không yêu cầu anh Thổ H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T và anh H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị T và anh H trình bày anh chị không có nợ chung nên không giải quyết.

Về án phí: Chị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thị T.

1. Chấp nhận cho chị Thị T được ly hôn với anh Thổ H.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 11, quyển số 01 ngày 13/3/2009 do Ủy ban nhân dân xã B , thị xã L, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Thổ Thanh B, sinh ngày 09/10/2008 cho chị Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thị T tạm thời không yêu cầu anh Thổ H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Anh Thổ H được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Thị T.

Khi cần thiết, chị Thị T và anh Thổ H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung: không giải quyết.

4. Về nợ chung: không giải quyết.

5. Về án phí: Chị Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004222 ngày 14 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc. Chị Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Thị T, anh Thổ H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ