- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Lộc phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2020/HS-ST Ngày 24 tháng 11 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Điểu Hoàng – Phó Chủ tịch HĐND xã Túc Trưng
2/ Bà Trương Thị Lệ Thanh – Giáo viên Trường PTTH Tân Phú.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Văn phòng ấp 2, xã Phú Vinh; Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2020/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L - sinh năm 1997 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Huỳnh Kim Á - sinh năm 1976; chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Ngọc K - sinh năm 1993 và có 01 con chung sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 30/7/2020 đến nay “có mặt”.
- Bị hại:
1/ Chị Nguyễn Thị T - sinh năm 1983
Địa chỉ: tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
2/ Ông Cao Hùng M - sinh năm 1964
- 1 -
Địa chỉ: tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
3/ Chị Nguyễn Thị Thanh P - sinh năm 1984
Địa chỉ: tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Lưu Quang Đ - sinh năm 1981,
Trú tại tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
2/ Ông Đặng Văn B - sinh năm 1968
Trú tại tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
3/ Anh Nguyễn Vũ C - sinh ngày 22/5/2005.
Người đại diện theo pháp luật của anh C: Ông Nguyễn Phương N – sinh năm 1966 (cha của anh C).
Cùng trú tại: tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
4/ Ông Nguyễn Công Đ - sinh năm 1975
Địa chỉ: tổ T, ấp S, xã F, huyện Q, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L và Nguyễn Vũ C là bạn bè cùng ấp và cùng nghiện ma túy. Do cần tiền để sử dụng ma túy nên trong thời gian từ khoảng tháng 7/2019 đến tháng 8/2019, L và C đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Thanh Sơn, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 7/2019 (không xác định được ngày), L cùng C đã trộm cắp 01 cây mai vàng của chị Nguyễn Thị T và bán cây mai cho anh Lưu Quang Đ với giá 500.000 đồng.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản ngày 12/10/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Định Quán kết luận cây mai vàng chiều cao 1,2m, chu vi gốc 30cm có giá 4.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả lại cây mai vàng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị T; chị T không yêu C bồi thường gì.
Vụ thứ hai: Vào khoảng tháng 7/2019 (không xác định được ngày), L cùng C trộm cắp 01 cây mai vàng của ông Cao Hùng M và tặng cây mai cho ông Đặng Văn B (L nhận ông Ba là cha nuôi).
- 2 -
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản ngày 11/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Định Quán đã kết luận cây mai vàng chiều cao 80cm chu vi gốc 42cm có giá 4.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả lại cây mai vàng cho ông Cao Hùng M; ông M không yêu C bồi thường gì.
Vụ thứ ba: Vào khoảng đầu tháng 8/2019 (không xác định được ngày), L cùng C trộm cắp 01 cây mai vàng của chị Nguyễn Thị Thanh P đem bán cho anh Lưu Quang Đ với giá 1.200.000 đồng.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản ngày 11/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Định Quán đã kết luận 01 cây mai vàng chiều cao 35 cm, chu vi gốc 30cm có giá 2.500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả lại cây mai vàng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Thanh P; chị Pg không yêu C bồi thường gì.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Vũ C tự khai nhận: Vào ngày 25/8/2019, Nguyễn Vũ C đã trộm 01 đầu xịt thuốc hiệu TS36, công suất từ 2,2 - 3KW của ông Nguyễn Công Đ và gọi cho L đến để chở đầu xịt thuốc về nhà L để cất giấu. Căn cứ lời khai của C, Công an đã thu hồi 01 đầu xịt thuốc tại nhà của L.
Căn cứ bản kết luận định giá tài sản ngày 10/10/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của công an huyện Định Quán đã kết luận đầu xịt thuốc hiệu TS36, công suất từ 2,2 - 3KW có giá 1.050.000đ. Cơ quan điều tra đã thu hồi và trao trả lại 01 đầu xịt thuốc hiệu TS36 cho ông Nguyễn Công Định. Ông Định đã nhận lại tài sản và không yêu C bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số 114/CT-VKSĐQ ngày 01 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, việc tranh tụng diễn ra như sau:
- Kiểm sát viên giữ nguyên truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Kiểm sát viên còn nêu quan điểm xử lý về biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Văn L nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt vì là trụ cột của giá đình. Bị cáo xác định ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên vừa nêu thì bị cáo không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định
- 3 -
Quán, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận tội; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng thời gian từ tháng 7/2019 đến tháng 8/2019, Nguyễn Văn L đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản là 03 cây mai vàng trên địa bàn xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 10.500.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Vũ C – sinh ngày 22/5/2005, khi thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản cùng bị cáo L thì C chỉ mới đủ 14 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra xử phạt hành chính đối với C về hành vi trộm cắp tài sản là đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Văn L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T, ông Cao Hùng M, chị Nguyễn Thị Thanh P và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Không những vậy, sau khi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương gây cản trở cho quá trình điều tra, phải tạm đình chỉ điều tra để bắt tạm giam theo quyết định truy nã. Do đó, Tòa án cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:
Trong 03 lần thực hiện hành vi phạm tội thì giá trị tài sản bị cáo L trộm cắp đều đủ cấu thành tội phạm nên bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo phạm tội nhiều lần nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được
- 4 -
xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo là lao động chính, nhất thời phạm tội; tài sản bị xâm phạm đã thu hồi cho bị hại nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về biện pháp tư pháp:
- Các tài sản trộm cắp đều đã được thu hồi và trao trả cho các chủ sở hữu. Các chủ sở hữu đã nhận lại tài sản không yêu C bị cáo phải bồi thường gì nên không đặt ra xem xét.
- Đối với hành vi cất giấu 01 đầu xịt thuốc hiệu TS36, công suất từ 2,2 - 3KW do Nguyễn Vũ C trộm cắp: Do giá trị của đầu xịt thuốc là 1.050.000đ và em Nguyễn Vũ C chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo L không cấu thành tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự. Vì vậy, ngày 23/9/2020, Ủy ban nhân dân huyện Định Quán ra Quyết định xử phạt hành chính đối với L về hành vi “Cất giữ tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có” bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng là đúng quy định pháp luật.
- Đối với anh Lưu Quang Đ và ông Đặng Văn B khi mua mai và được L tặng cho cây mai nhưng không biết cây mai là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý. Anh Đạo đã nhận lại 1.700.000 đồng từ L và không yêu C gì khác nên không đặt ra xem xét.
Về quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Là phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- 5 -
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2020.
4. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thanh P; ông Cao Hùng M, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Phương N, Đặng Văn B; anh Lưu Quang Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Định Quán; - Công an huyện Định Quán; - Chi cục THA huyện Định Quán; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, VP. - 6 - | Lê Xuân Hòa |