- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Hà Duy L (tên go ̣i khác: LT) phạm tội “Trộm cắ p tà i sản”. Bi ̣ cáo Trần Tuấn A (tên go ̣i khác: TB) pha ̣m tô ̣i “Tiêu thụ tà i sản do ngườ i khá c phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2019/HSST Ngày: 17 - 5 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
́
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀ NH PHÔ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dự
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Đứ c Trung
- Ông Nguyễn Văn Ha ̣nh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đă ̣ng Thi ̣ Thúy Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thà nh phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Binh – Kiểm sát viên.
̀
Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: HÀ DUY L (tên go ̣i khác: LT) - sinh năm 1993, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: NDT, phường TT, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề ngiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Thái B (đã chết) và bà Ngô Thị T - sinh năm: 1964; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền sự: Không;
Tiền án: 03 tiền án.
- Ngày 03/4/2012, bị Toà án nhân dân thành phố B, xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bản án số: 112/2012/HSST. Ngày 16/6/2012, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống.
- Ngày 05/12/2012, bị Toà án nhân dân thành phố B, xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bản án số: 360/2012/HSST. Ngày 27/11/2013, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống.
- Ngày 02/11/2015, bị Toà án nhân dân thành phố B, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bản án số: 330/2015/HSST. Ngày 22/9/2018, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống.
Nhân thân: Ngày 29/4/2011, bị Công an phường TT1, thành phố B, ban hành Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, về hành vi gây rối trật tự công cộng
Bi ̣ cáo bi ̣ bắt ta ̣m giữ, ta ̣m giam từ ngày 26/12/2018 đến nay. Bị cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i nhà ta ̣m giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuô ̣t. Bi ̣ cáo có mă ̣t ta ̣i phiên tòa.
̀
́
2. Họ và tên: TRÂN TUÂN A (tên gọi khác: TB) - sinh năm 1986, tại tỉnh: Nam Định; Nơi cư trú: QT, phường QT, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không;
́ trình độ học vấn: 10/12; con ông: Trần Đức V (đã chết) và con bà: Hoàng Thị Kim T1 - sinh năm: 1955; bi ̣ cáo có vợ là Ma Thi ̣ Diê ̣u Tr – sinh năm 1988, bi ̣ cáo có 01 con sinh năm 2010.
Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 30/3/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố B, ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 11/5/2018 chấp hành xong.
Nhân thân:
- Ngày 04/9/2007, bị Toà án nhân dân thành phố B, xử phạt 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, tại bản án số: 200/2007/HSST. Ngày 30/01/2009, chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 21/12/2012, bị Toà án nhân dân thành phố B, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, bản án số: 384/2012/HSST. Ngày 24/01/2015, chấp hành xong hình phạt tù.
- Ngày 06/9/2015, bị Công an thành phố NĐ, tỉnh Nam Định, ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bằng hình thức phạt tiền. Ngày 08/9/2015 chấp hành xong biện pháp hành chính
Bi ̣ cáo bi ̣ bắt ta ̣m giữ, ta ̣m giam từ ngày 01/01/2019 đến nay. Bị cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i nhà ta ̣m giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuô ̣t. Bi ̣ cáo có mă ̣t ta ̣i phiên tòa.
* Bị hại: Bà Trần Thi ̣ Kim D – sinh năm 1966, địa chỉ: NTP, phườ ng TN, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
* Ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan: Ông Thái Phi T2 – sinh năm 1991; đi ̣a chỉ: Am, phườ ng TA, thành phố B, Đắk Lắk. (vắng mă ̣t)
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Tuấn A1 – sinh năm 1960, địa chỉ: NTP, phườ ng TN, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. ( vắng mặt)
- Ông Trần Anh T3 – sinh năm 1998, địa chỉ: T7, thi ̣ trấn QP, huyê ̣n C, tỉnh Đắk Lắk. ( vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thi ̣ H – sinh năm 1972; đi ̣a chỉ: T12, phườ ng TC, thành phố B, Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Duy L, Trần Tuấn A đều là các đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 18 giờ ngày 24/12/2018 L, Trần Tuấn A và Trần Anh T3, gặp nhau ở khu vực hoa viên trên đường PĐP, phường TN, thành phố B, tinh Đẳ
́k Lắk rủ nhau đi bộ vào trung tâm thành phố B chơi.
Khi cả 03 ngườ i đi ngang qua phía trước số nhà NTP, phường TN, thành phố B thì L nhìn thấy phía trước nhà có để 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Ultimo, màu đen, gắn biển số 47M8-5013, trên xe có gắn chìa khóa điện, của bà Trần Thị Kim D, không có người trông coi. Thấy vậy, L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này nên giả bộ đứng lại phía trước nhà bà D đi vệ sinh mục đích để quan sát xung quanh. Trần Tuấn A và Trần Anh T3 không biết ý định trộm cắp xe mô tô của L nên vẫn đi bộ về phía trước hướng ra đường NTP. L quan sát thấy không có người nên lén lút trộm chiếc xe mô tô biển số 47M8-5013, rồi điều khiển xe mô tô chạy đến chỗ Trần Tuấn A và Trần Anh T3 đang đi bộ phía trước và nói với cả hai là “lên xe đi” thì Trần Tuấn A nhảy lên, ngồi sau xe mô tô, còn Trần Anh T3 không nói gì, không lên xe mô tô của L mà vẫn đi bộ về phía trước.
Khi Trần Tuấn A lên xe mô tô thì L điều khiển xe chở Tuấn A vào trung tâm thành phố B, trên đường đi L hỏi Tuấn A là tiêu thụ xe trộm cắp ở đâu? Trần Tuấn A biết xe mô tô L muốn tiêu thụ là tài sản do L trộm cắp mà có nhưng cần tiền mua ma túy sử dụng nên Tuấn A lấy điện thoại hiệu Masstel, màu đen ra gọi cho anh Thái Phi T2 (là bạn của Tuấn A) hỏi cầm cố xe, rồi nói L điều khiển xe đến địa chỉ: Am, phường TA, thành phố B.
Khi đến nơi, L đứng ngoài đường đợi còn Tuấn A mang xe mô tô biển số 47M8-5013, vào cầm cố cho anh T2 được số tiền 850.000 đồng. Số tiền này L, Trần Tuấn A mua ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch), sau đó L và Tuấn A cùng nhau sử dụng hết số ma túy trên. Khi bà D phát hiện bị trộm cắp xe mô tô đã hỏi hàng xóm xung quanh thì biết được có 03 thanh niên đi bộ ngang qua nhà bà hướng về đường NTP nên bà mượn xe mô tô của hàng xóm điều khiển xe mô tô đi theo hướng đường NTP ra Trung Tâm thành phố B thì bắt gặpTrần Anh T3 đang đi bộ trên đường. Bà D thấy Trần Anh T3 khả nghi nên đã nhờ người dân trình báo đến Công an phường TN, để đưa Trần Anh T3 về trụ sở làm việc.
Một lúc sau Trần Tuấn A nhận được điện thoại của bạn bè ngoài xã hội (không rõ lai lịch) nói trả lại xe cho bà D thì Tuấn A quay lại chỗ anh T2 xin chuộc lại xe mô tô đã cầm cố. Tuấn A trả cho anh T2 số tiền 300.000 đồng và còn nợ lại số tiền 550.000 đồng thì anh T2 đồng ý cho Tuấn A nợ lại tiền và trả lại xe cho Tuấn A. Sau đó, Tuấn A đưa chiếc xe mô tô gắn biển số 47M8- 5013, để L điều khiển xe đi đến trước nhà bà D trả lại xe cho ông Nguyễn Tuấn A1 (là chồng bà D). Ngày 25/12/2018, bà D tự nguyện giao nộp xe mô tô hiệu Yamaha Ultimo, màu đen, biển số 47M8-5013, cho Cơ quan điều tra. Ngày 30/12/2018 cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen và 01 xe gắn máy hiệu Honda màu xanh, biển số 47FD-3582, của Trần Tuấn A để phục vụ công tác điều tra
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 44/KLĐG ngày 20/2/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, kết luận: Chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Ultimo, số khung RLCM23B108Y004517, số máy 23B1- 004517, màu đen, biển số 47M8-5013, trị giá 2.000.000 đồng
Đối với Trần Anh T3 đi cùng với Hà Duy L, Trần Tuấn A vào ngày 24/12/2018. Quá trinh điều tra xác đi ̣nh được: Trần Anh T3 không bàn bạc, không
̀ giúp sức, không biết mục đích trộm cắp xe mô tô của bị can Hà Duy L, không hưởng lợi từ việc L và Trần Tuấn A tiêu thụ xe mô tô do trộm cắp mà có. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý hình sự.
Đối với anh Thái Phi T2 là người nhận cầm cố xe mô tô biển số 47M8-5013, với số tiền 850.000 đồng, nhưng Anh T2 không biết xe mô tô là do các bị cáo Hà Duy L, Trần Tuấn A phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Duy L và Trần Tuấn A. Ngày 20/3/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đa ban hã
̀nh Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt cảnh cáo.
Tại bản cáo trạng số 130/CT-VKSTP.BMT ngày 24/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Hà Duy L về tội “Trộm cắp tà i sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bô ̣ luâ ̣t hinh
̀ sự năm 2015 được sử a đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố Trần Tuấn A về tô ̣i “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 2015 được sử a đổi, bổ sung năm 2017.
̀
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Duy L, Trần Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bi ̣ cáo L và bi ̣ cáo A đồng ý bồi thườ ng số tiền 550.000 đồng cho ông Thái Phi Tr.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng số 130/CT-VKSTP.BMT ngày 24/4/2019 đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bi ̣ cáo Hà Duy L pha ̣m tô ̣i “Trộm cắ p tà i sản”; bi ̣ cáo Trần Tuấn A pha ̣m tô ̣i “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hà Duy L mứ c án từ 02 tù năm đến 03 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Tuấn A mứ c án từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
Về trách nhiê ̣m dân sự: Đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử xem xét buô ̣c bi ̣ cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A phải liên đớ i bồi thườ ng cho ông Thái Phi T2 số tiền 550.000 đồng. Bà Trần Thi ̣ Kim D không yêu cầu bồi thườ ng nên không đă ̣t ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra xác định xe mô tô hiệu Yamaha, màu đen, có số khung RLCM23B108Y004517, số máy 23B1-004517, kiểu dáng xe Mio, do bà Mai Bích D1, sinh năm: 1988, trú tại: LĐT, phường X, Quận GV, thành phố HCM, đăng ký chủ sở hữu lần đầu vào ngày 25/12/2008, với biển số đăng ký là 54V4- 0664. Năm 2012 bà Mai Bích D1 đã bán chiếc xe mô tô cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch (việc mua bán xe không có giấy tờ)
Quá trinh điều tra, bà Trần Thị Kim D khai nhâ ̣n: Chiếc xe mô tô bị trộm
̀ cắp vào ngày 24/12/2018, có nguồn gốc do chị Đỗ Trần Kim P (là con bà Trần Thị Kim D) mua lại của chị Nguyễn Thị Phương N (là bạn của chị P) vào năm 2016 với số tiền là 4.000.000 đồng, khi mua bán không có giấy tờ. Chị Nguyễn Thị Phương N trình bày: Năm 2016 một người bạn tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch), đến mượn tiền rồi để lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Ultimo, màu đen, gắn biển số 47M8- 5013, cho chị N để làm tin nhưng sau đó N1 không quay lại trả tiền và lấy xe nên chị N bán chiếc xe lại cho chị P. Sau đó, chị P đưa xe mô tô cho bà Trần Thị Kim D để làm phương tiện đi lại. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, chưa xác minh làm rõ được chủ sở hữu nên tách ra để điều tra xác minh và xử lý sau nên không đă ̣t ra xem xét giải quyết.
Đối với xe máy biển số 47FD- 3582, nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, số khung C50- 9658291, số máy C50E- 9658294. Quá trình điều tra: Bị cáo Trần Tuấn A khai nhận đã mượn xe máy biển số 47FD- 3582, của Lưu Minh T4, sinh năm 1987, trú tại: MTB, phường ThN, thành phố B (T4 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột), để đi công việc. T4 khai nhận: Khoảng tháng 3/2018 T4 mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch) với số tiền 600.000 đồng, sau đó T4 cho Trần Tuấn A mượn xe thì bị Cơ quan điều tra tạm giữ. Ngày 26/2/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, ra Quyết định trưng cầu giám định xe máy biển số 47FD- 3582. Tại bản kết luận giám định số 1182/PC09 ngày 03/01/2019 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Số khung: Không thay đổi; Số máy: Không thay đổi; Biển số: Là biển số thật. Kết quả điều tra xác định: Xe máy biển số 47FD-3582, đứng tên chủ xe là ông Lê Văn H1, sinh năm:1964, địa chỉ: Thôn Y, xã Er, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Sau một thời gian sử dụng, ông H1 đã bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, chưa xác định được chủ sở hữu nên tách chiếc xe gắn máy, biển số 47FD- 3582, ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên không đă ̣t ra xem xét giải quyết.
Đối với biển số xe 47M8-5013 (được gắn vào xe mô tô hiệu Yamaha, màu đen, kiểu dáng xe Mio, biển số 54V4-0664). Kết quả điều tra xác định: Biển số 47M8-5013, là của xe mô tô hiệu Suketa, do ông Lê Văn S, địa chỉ: Thôn Z, xã En, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, đứng tên chủ xe. Ngày 26/12/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, trưng cầu giám định biển số 47M8-5013. Tại bản kết luận giám định số 1182/PC09 ngày 03/01/2019 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Biển số: Là biển số thật. Ngày 19/2/2019 cơ quan điều tra xác minh tại địa chỉ: Thôn Z, xã En, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nhưng không có tên Lê Văn S đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương nên cần tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị pháp lý.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số imei 1: 867272020305766; số imei 2: 8672722020305774, là tài sản của Trần Tuấn A dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước
Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuô ̣t, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại, ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan, ngườ i làm chứ ng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai mà các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan, ngườ i làm chứ ng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 24/12/2018, ta ̣i NTP, phườ ng TN, thành phố B, tinh Đẳ
́k Lắk, Hà Duy L đã thực hiê ̣n hành vi lén lút trô ̣m cắp 01 chiếc xe mô tô biển số 47M8-5013 của bà Trần Thi ̣ Kim D, tri ̣ giá tài sản bi ̣ cáo L trô ̣m cắp được là 2.000.000 đồng. Khi thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i L có 03 tiền án chưa được xóa án tich, pha ̣m tô ̣i thuô ̣c trườ ng hợp “Tá i phạm nguy hiểm”. Vi vâ ̣y, hành vi của
́
̀ bị cáo Hà Duy L đã phạm vào tội “Trộm cắ p tà i sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sử a đổi bổ sung năm 2017.
Đối vớ i bi ̣ cáo Trần Tuấn A, sau khi Hà Duy L trô ̣m cắp được xe mô tô biển số 47M8-5013, bi ̣ cáo biết rõ chiếc xe là tài sản do L trô ̣m cắp mà có. Trần Tuấn A đa cẫ ̀m cố chiếc xe cho ông Thái Phi T2 được số tiền 850.000 đồng. Số tiền có được L và A dùng để mua ma túy sử du ̣ng và trả la ̣i cho ông T2 300.000 đồng để chuô ̣c la ̣i xe. Hành vi của bị cáo Trần Tuấn A đã phạm vào tội “Tiêu thụ tà i sản do ngườ i khá c phạm tội mà có ” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, được sử a đổi bổ sung năm 2017.
Điều 173 và Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017 quy định:
- Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Ngườ i nà o trộm cắp tà i sản của ngườ i khá c tri ̣ giá từ 2.000.000 đồng đến dướ i 50.000.000 đồng hoặc dướ i 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong cá c trườ ng hợp sau đây thi bi ̣ phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ
̀ 06 thá ng đến 03 năm.
...
2. Phạm tội thuộc một trong cá c trườ ng hợp sau đây, thi bi ̣ phạt tù từ 02
̀ năm đến 07 năm”
...
g, Tá i phạm nguy hiểm.
...”
- Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Ngườ i nà o không hứ a he ̣n trướ c mà chứ a chấp, tiêu thụ tà i sản biết ro ̃ do ngườ i khá c phạm tội mà có , thi bi ̣ phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
̀
100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 thá ng đến 03 năm.
...”
Xét tính chất, mứ c đô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của bị cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i. Bở i le: Cã
́c bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được tài sản của công dân được pháp luâ ̣t bảo vê ̣, mo ̣i hành vi xâm pha ̣m trái pháp luâ ̣t đều bi ̣ trừ ng tri ̣ thich đáng. Bi ̣ cáo L và bi ̣ cáo A là ngườ i nghiê ̣n ma túy, xuất phát từ ý thứ c coi
́ thườ ng pháp luâ ̣t, lườ i biếng lao đô ̣ng muốn có tiền tiêu xài nên các bi ̣ cáo đa cỗ ́ ý thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i, hành vi của bi ̣ cáo L và bi ̣ cáo A không những xâm pha ̣m đến quyền sở hữu tài sản của bi ̣ ha ̣i mà còn gây mất trâ ̣t tự tri ̣ an ta ̣i đi ̣a phương. Khi thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i bi ̣ cáo Hà Duy L và Trần Tuấn A có đầy đủ năng lực trách nhiê ̣m hinh sự, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về
̀ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.
Xét trong vụ án này có 02 bị cáo phạm vào 02 tô ̣i khác nhau và tính chất, mức độ, hành vi khác nhau nên Hội đồng xét xử cần đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, trên cơ sở đó cụ thể hoá mức hình phạt đối với từng bị cáo cho phù hợp.
[2.1] Bi ̣ cáo Hà Duy L là ngườ i thực hiê ̣n hành vi trô ̣m cắp tài sản, bi ̣ cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tich nhưng bi ̣ cáo không lấy đó làm bài ho ̣c để tu
́ dưỡng, rèn luyê ̣n bản thân mà tiếp tu ̣c thực hiê ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i, thể hiê ̣n thái đô ̣ xem thườ ng pháp luâ ̣t của bi ̣ cáo. Hô ̣i đồng xét xử thấy cần phải áp du ̣ng mứ c hinh
̀ pha ̣t tương xứ ng vớ i tinh chất, mứ c đô ̣, hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo, cần cách ly bi ̣
́ cáo khỏi đờ i sống xa hô ̣̃ i mô ̣t thờ i gian nhất đi ̣nh có như vâ ̣y mớ i đủ tác du ̣ng giáo du ̣c, cải ta ̣o bi ̣ cáo và răn đe phòng ngừ a chung trong toàn xa hô ̣̃ i.
Quá trinh điều tra và ta ̣i phiên tòa hôm nay bi ̣ cáo Hà Duy L đa thã ̀nh khẩn
̀ khai báo về hành vi pha ̣m tô ̣i của minh, bi ̣ cáo pha ̣m tô ̣i thuô ̣c trườ ng hợp gây thiê ̣t
̀
ha ̣i không lớ n. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự được quy định tại
̀ điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017, Hô ̣i đồng xét xử cần áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo L để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
[2.2] Bi ̣ cáo Trần Tuấn A, sau khi biết chiếc xe là tài sản do bi ̣ cáo Hà Duy L trô ̣m cắp của ngườ i khác mà có, bi ̣ cáo đa tĩ ch cực tim chỗ tiêu thu ̣, là ngườ i trực
́
̀ tiếp cầm cố chiếc xe và nhâ ̣n tiền từ anh Thái Phi T2, bi ̣ cáo là ngườ i có nhân thân xấu. Hô ̣i đồng xét xử thấy cần phải áp du ̣ng mứ c hinh pha ̣t tương xứ ng vớ i tinh
̀
́ chất, mứ c đô ̣, hành vi pha ̣m tô ̣i, nhân thân của bi ̣ cáo, cần cách ly bi ̣ cáo khỏi đờ i sống xa hô ̣̃ i mô ̣t thờ i gian nhất đi ̣nh có như vâ ̣y mớ i đủ tác du ̣ng giáo du ̣c, cải ta ̣o bi ̣ cáo và răn đe phòng ngừ a chung trong toàn xa hô ̣̃ i.
Quá trinh điều tra và ta ̣i phiên tòa hôm nay bi ̣ cáo Trần Tuấn A đa thã
̀nh
̀ khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi pha ̣m tô ̣i của minh, đây là tinh tiết giảm
̀
̀ nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
̀ năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017, Hô ̣i đồng xét xử cần áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo Trần Tuấn A thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Quá điều tra bi ̣ ha ̣i bà Trần Thi ̣ Kim D không yêu cầu các bi ̣ cáo bồi thườ ng nên Hô ̣i đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Quá trinh điều tra ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan ông Thái Phi T2
̀ yêu cầu các bi ̣ cáo bồi thườ ng số tiền 550.000 đồng, xét thấy yêu cầu của ông T2 là có căn cứ và phù hợp vớ i quy đi ̣nh pháp luâ ̣t. Số tiền có được từ viê ̣c cầm cố chiếc xe mô tô cho ông Thái Phi T2 các bi ̣ cáo L cùng nhau sử du ̣ng, ta ̣i phiên tòa bi ̣ cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A đồng ý bồi thườ ng cho ông T2 số tiền trên. Do đó, Hô ̣i đồng xét xử cần buô ̣c bi ̣ cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A phải có trách nhiê ̣m liên đớ i bồi thườ ng số tiền 550.000 đồng cho ông Thái Phi T2, chia theo phần cu ̣ thể: Bi ̣ cáo Hà Duy L phải bồi thườ ng số tiền 275.000 đồng, bi ̣ cáo Trần Tuấn A phải bồi thườ ng số tiền 275.000 đồng. Á p du ̣ng khoản 2 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t dân sự để tinh lai suẫ
́t đối vớ i khoản tiền châ ̣m thi hành án khi có đơn yêu cầu
́ thi hành án.
[4] Về vật chứng của vụ án:
Đối vớ i xe mô tô hiệu Yamaha, màu đen, có số khung RLCM23B108Y004517, số máy 23B1- 004517, kiểu dáng xe Mio, quá trinh điều
̀ tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, chưa xác minh làm rõ được chủ sở hữu nên đa tách ra để điều tra xác minh và xử lý sau nên Hô ̣̃
i đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với xe máy biển số 47FD- 3582, nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, số khung C50- 9658291, số máy C50E- 9658294, quá trinh điều tra cơ quan cảnh sát
̀ điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, chưa xác định được chủ sở hữu nên tách chiếc xe gắn máy, biển số 47FD- 3582, ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên Hô ̣i đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với biển số xe 47M8-5013 gắn vào xe hiệu Yamaha, màu đen, có số khung RLCM23B108Y004517, số máy 23B1- 004517, kiểu dáng xe Mio không có giá tri ̣ sử du ̣ng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số imei 1: 867272020305766; số imei 2: 8672722020305774, là tài sản của Trần Tuấn A dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[5] Về án phí:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A phải chịu án phí hinh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
̀
- Về án phi dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A phải
́ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 260, Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
[1] Tuyên bố: Bị cáo Hà Duy L (tên go ̣i khác: LT) phạm tội “Trộm cắ p tà i sản”. Bi ̣ cáo Trần Tuấn A (tên go ̣i khác: TB) pha ̣m tô ̣i “Tiêu thụ tà i sản do ngườ i khá c phạm tội mà có”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Hà Duy L (tên go ̣i khác: LT) 02 (hai) năm 09 (chin) tháng
́ tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt ta ̣m giữ, tạm giam, ngày 26/12/2018.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấ n A (tên go ̣i khác: TB) 09 (chin) tháng tù, thời
́ hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt ta ̣m giữ, tạm giam, ngày 01/01/2019.
[2] Về trách nhiê ̣m dân sự: Á p du ̣ng Điều 48 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; Điều 357;
̀ Điều 468; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bô ̣ luâ ̣t dân sự.
Buô ̣c bi ̣ cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A phải có trách nhiê ̣m liên đớ i bồi thườ ng cho ông Thái Phi T2 số tiền 550.000 đồng, cu ̣ thể: Bi ̣ cáo Hà Duy L phải bồi thườ ng số tiền 275.000 đồng, bi ̣ cáo Trần Tuấn A phải bồi thườ ng số tiền 275.000 đồng.
Á p du ̣ng khoản 2 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t dân sự để tinh lai suẫ
́t đối vớ i khoản
́ tiền châ ̣m thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án.
[3] Về xử lý vâ ̣t chứ ng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017.
- Ti ̣ch thu tiêu hủy biển số xe mô tô 47M8-5013.
- Ti ̣ch thu sung ngân sách nhà nướ c chiếc điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen, số imei 1: 867272020305766; số imei 2: 8672722020305774.
(Vật chứ ng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hà nh á n dân sự thà nh phố Buôn Ma Thuột, tinh Đắ k Lắ k, đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứ ng
̉ ngà y 25/4/2019).
[4] Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A mỗi ngườ i phải chịu 200.000 (hai trăm) ngàn đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bi ̣ cáo Hà Duy L và bi ̣ cáo Trần Tuấn A mỗi ngườ i phải chi ̣u 300.000 (ba trăm) ngàn đồng tiền án phi dân sự sơ thẩm.
́
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bi ̣ ha ̣i, ngườ i có quyền lợi nghia vụ̃
liên quan vắng mă ̣t ta ̣i phiên tòa được quyền kháng bản án trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hoă ̣c bản án được niêm yết hợp lê ̣.
| Nơi nhận : - Vu ̣ GĐKT I, TANDTC; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP.BMT; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Công an TP.BMT; - THADS TP.BMT,; - THA HS TP.BMT - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; bi ̣ ha ̣i; - Ngườ i có ql & nv liên quan; - Lưu: HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ̉ THÂM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đa kỹ ́ Huỳnh Văn Dự |