vanban.org

Bản án 117/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Chí H;

Sửa Bản án số 02/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện L về hình phạt đối với Nguyễn Chí H. Xử phạt: Nguyễn Chí H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí H phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Chí H;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2019/HSPT
Ngày: 22/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn

Các thẩm phán:

Bà Hoàng Lan Phương

Bà Nguyễn Thị Chinh

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Vũ Trọng Trạng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2019/TLPT-HS ngày 04/3/2019 đối với bị cáo Nguyễn Chí H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án số 02/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Chí H - Sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Làng 11, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Chí Hải và bà Nguyễn Thị Hảo; có vợ: Lê Thị Mai và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người bị hại không kháng cáo: Trương Công T, trú tại Làng 11, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 21/6/2018 Nguyễn Chí H, Trương Công T đến nhà anh Bùi Văn M ở cùng làng hát Karaoke, sau đó rủ nhau đánh bài ăn tiền. Qúa trình đánh bài, bị thua nên T có vay tiền của H 900.000 đồng và đưa chiếc điện thoại Iphone 6 của T cho H cầm để làm tin. Khi ngồi đánh bài, H và T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Nghe tiếng ồn ào cãi nhau nên anh M không cho chơi nữa. Lúc này, H rủ anh T về nhà ông bà ngoại của H ở thôn Thọ Liên, xã K để lấy đồ ăn về nhà anh M tiếp tục uống rượu. Khi ngồi uống rượu thì H và T lại tiếp tục cãi nhau. H dùng tay tát một cái vào mặt T, xong T đi về. Được một lúc, H đi xe môtô vào nhà anh T thì gặp chị Quách Thị Y (vợ anh T) nên H quay xe về nhà. Được khoảng 30 phút H lại đến nhà anh T thì chị Y nói là anh T không có nhà, H quay xe đi vào làng 11, xã K để tìm T nhưng không gặp.

Đến khoảng 03 giờ ngày 22/6/2018, H tiếp tục đến nhà thì gặp anh T đang ở nhà, rồi hai bên lời qua tiếng lại. H dùng thanh kiếm chém một nhát vào cửa sắt nơi anh T đang ngồi, anh T đứng dậy thì bị H chém tiếp một nhát vào cửa sắt trúng vào ngón tay phải của anh T bị thương. Anh T chạy vào nhà lấy vỏ chai bia ném lại H làm H bị thương. H xông lại dùng kiếm chém tiếp một nhát trúng vào cánh tay phải anh T, xong H đi về, còn T chạy xuống bếp cầm dao nhọn lùa theo H, khi ra đến sân thì bị ngất và được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa L. Sau đó anh T tiếp tục đi điều trị tại bệnh viện TWQĐ 108 từ ngày 06/9/2018 đến ngày 14/9/2018 thì ra Viện.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 525/2018/TTPY ngày 17/8/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tỷ lệ thương tật cơ thể do thương tích gây nên đối với anh T theo Điều 4 Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế là 37%.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 83cm; 01số mảnh vỡ bằng thủy rinh màu nâu có hình dạng kích thước khác nhau; 01 con dao nhọn dài 47cm.

01 chiếc điếu cày bằng luồng khô, không phải vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trương Công T yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 74.502.000đ, bị cáo đã bồi thường số tiền 3.500.000đ, anh T yêu cầu bồi thường tiếp 71.002.000đ.

Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 02/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định: Nguyễn Chí H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt Nguyễn Chí H 06 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm cũng áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586 và 590 BLDS; công nhận Nguyễn Chí H đã tự nguyện bồi thường cho anh Trương Công T 3.500.000đ; buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho anh T 43.822.000đ; án sơ thẩm cũng tuyên xử lý tang vật, tuyên án phí và quyền kháng cáo.

Sau án sơ thẩm xử, ngày 21/01/2019 Nguyễn Chí H có đơn kháng cáo xin giảm án, xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận thấy trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS mới là đã tự nguyện bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 43.822.000đ, khắc phục toàn bộ thiệt hại; thể hiện thái độ ăn năn hối cải, lo chấp hành án của bị cáo nên KSV đề nghị HĐXX giảm án cho bị cáo 18-24 tháng tù, không cho hưởng án treo.

Bị cáo H không tranh luận gì với ý kiến của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của người tiến hành tố tụng và của Cơ quan tiến hành tố tụng.

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự, thủ tục và hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và nhận định của bản án sơ thẩm, thể hiện:

Do mâu thuẫn trước đó, khoảng 03 giờ ngày 22/6/2018 Nguyễn Chí H đã có hành vi dùng kiếm chém anh Trương Công T 01 nhát vào ngón tay phải và 01 nhát vào cánh tay phải tại gia đình anh T ở làng 11, xã K, huyện L. Kết quả giám định pháp y, anh Trương Công T bị tổn thương cơ thể là 37%.

Với hành vi trên, Nguyễn Chí H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về téi “Cố ý gây thương tích” theo điểm c Kho¶n 3 §iÒu 134 BLHS là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Đây là vụ án cố ý gây thương tích mà ban đầu xuất phát từ mẫu thuẫn giữa bị cáo và bị hại trong việc vay mượn tiền đánh bài nên bị cáo H đã dùng kiếm chém anh T, gây thương tích làm anh T bị tổn thương cơ thể mất 37% sức khỏe.

Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của anh T trái pháp luật; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo H đã thành khẩn khai báo; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 3.500.000đ cho anh T, khắc phục được một phần nhỏ hậu quả gây ra cho anh T nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 BLHS như bản án sơ thẩm đã xem xét là có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo H cũng đã thành khẩn khai báo và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là: Tự nguyện bồi thường tiếp cho anh T số tiền 43.822.000đ tại Cơ quan Thi hành án, theo quyết định của bản án sơ thẩm. Tổng số tiền bị cáo đã bồi thường là 47.322.000đ. Việc bồi thường cho anh T, bị cáo đã thực hiện xong 100% số tiền phải bồi thường nên bị cáo H được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS.

Do thương tích của anh T cũng có mức độ, bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm nên có thể xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo như đại diện VKS đã đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo H đã khắc phục, bồi thường đầy đủ cho anh T số tiền phải bồi thường tại cấp phúc thẩm nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét,

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Chí H;

Sửa Bản án số 02/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện L về hình phạt đối với Nguyễn Chí H.

Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38, 54 BLHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Chí H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Công nhận bị cáo Nguyễn Chí H đã bồi thường tiếp cho anh Trương Công T số tiền 43.822.000đ tại Chi cục Thi hành án huyện L. Việc bồi thường của bị cáo đối với anh T đã thực hiện xong (Biên lai thu tiền số AA/2010/000619 ngày 06/5/2019 và Biên lại thu tiền số AA/2010/000622 ngày 20/5/2019 của Chi cục Thi hành án huyện L).

Bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ