- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí H phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Chí H;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2019/HSPT Ngày: 22/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn
Các thẩm phán:
Bà Hoàng Lan Phương
Bà Nguyễn Thị Chinh
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Vũ Trọng Trạng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2019/TLPT-HS ngày 04/3/2019 đối với bị cáo Nguyễn Chí H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án số 02/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Thanh Hoá.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Chí H - Sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Làng 11, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá; nghề ngH: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Chí Hải và bà Nguyễn Thị Hảo; có vợ: Lê Thị Mai và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người bị hại không kháng cáo: Trương Công T, trú tại Làng 11, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 21/6/2018 Nguyễn Chí H, Trương Công T đến nhà anh Bùi Văn M ở cùng làng hát Karaoke, sau đó rủ nhau đánh bài ăn tiền. Qúa trình đánh bài, bị thua nên T có vay tiền của H 900.000 đồng và đưa chiếc điện thoại Iphone 6 của T cho H cầm để làm tin. Khi ngồi đánh bài, H và T xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Nghe tiếng ồn ào cãi nhau nên anh M không cho chơi nữa. Lúc này, H rủ anh T về nhà ông bà ngoại của H ở thôn Thọ Liên, xã K để lấy đồ ăn về nhà anh M tiếp tục uống rượu. Khi ngồi uống rượu thì H và T lại tiếp tục cãi nhau. H dùng tay tát một cái vào mặt T, xong T đi về. Được một lúc, H đi xe môtô vào nhà anh T thì gặp chị Quách Thị Y (vợ anh T) nên H quay xe về nhà. Được khoảng 30 phút H lại đến nhà anh T thì chị Y nói là anh T không có nhà, H quay xe đi vào làng 11, xã K để tìm T nhưng không gặp.
Đến khoảng 03 giờ ngày 22/6/2018, H tiếp tục đến nhà thì gặp anh T đang ở nhà, rồi hai bên lời qua tiếng lại. H dùng thanh kiếm chém một nhát vào cửa sắt nơi anh T đang ngồi, anh T đứng dậy thì bị H chém tiếp một nhát vào cửa sắt trúng vào ngón tay phải của anh T bị thương. Anh T chạy vào nhà lấy vỏ chai bia ném lại H làm H bị thương. H xông lại dùng kiếm chém tiếp một nhát trúng vào cánh tay phải anh T, xong H đi về, còn T chạy xuống bếp cầm dao nhọn lùa theo H, khi ra đến sân thì bị ngất và được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa L. Sau đó anh T tiếp tục đi điều trị tại bệnh viện TWQĐ 108 từ ngày 06/9/2018 đến ngày 14/9/2018 thì ra Viện.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 525/2018/TTPY ngày 17/8/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tỷ lệ thương tật cơ thể do thương tích gây nên đối với anh T theo Điều 4 Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế là 37%.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 83cm; 01số mảnh vỡ bằng thủy rinh màu nâu có hình dạng kích thước khác nhau; 01 con dao nhọn dài 47cm.
01 chiếc điếu cày bằng luồng khô, không phải vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trương Công T yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 74.502.000đ, bị cáo đã bồi thường số tiền 3.500.000đ, anh T yêu cầu bồi thường tiếp 71.002.000đ.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 02/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định: Nguyễn Chí H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt Nguyễn Chí H 06 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm cũng áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586 và 590 BLDS; công nhận Nguyễn Chí H đã tự nguyện bồi thường cho anh Trương Công T 3.500.000đ; buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho anh T 43.822.000đ; án sơ thẩm cũng tuyên xử lý tang vật, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Sau án sơ thẩm xử, ngày 21/01/2019 Nguyễn Chí H có đơn kháng cáo xin giảm án, xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận thấy trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS mới là đã tự nguyện bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 43.822.000đ, khắc phục toàn bộ thiệt hại; thể hiện thái độ ăn năn hối cải, lo chấp hành án của bị cáo nên KSV đề nghị HĐXX giảm án cho bị cáo 18-24 tháng tù, không cho hưởng án treo.
Bị cáo H không tranh luận gì với ý kiến của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra và xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của người tiến hành tố tụng và của Cơ quan tiến hành tố tụng.
Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự, thủ tục và hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và nhận định của bản án sơ thẩm, thể hiện:
Do mâu thuẫn trước đó, khoảng 03 giờ ngày 22/6/2018 Nguyễn Chí H đã có hành vi dùng kiếm chém anh Trương Công T 01 nhát vào ngón tay phải và 01 nhát vào cánh tay phải tại gia đình anh T ở làng 11, xã K, huyện L. Kết quả giám định pháp y, anh Trương Công T bị tổn thương cơ thể là 37%.
Với hành vi trên, Nguyễn Chí H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về téi “Cố ý gây thương tích” theo điểm c Kho¶n 3 §iÒu 134 BLHS là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng: Đây là vụ án cố ý gây thương tích mà ban đầu xuất phát từ mẫu thuẫn giữa bị cáo và bị hại trong việc vay mượn tiền đánh bài nên bị cáo H đã dùng kiếm chém anh T, gây thương tích làm anh T bị tổn thương cơ thể mất 37% sức khỏe.
Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của anh T trái pháp luật; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo H đã thành khẩn khai báo; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 3.500.000đ cho anh T, khắc phục được một phần nhỏ hậu quả gây ra cho anh T nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 BLHS như bản án sơ thẩm đã xem xét là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo H cũng đã thành khẩn khai báo và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là: Tự nguyện bồi thường tiếp cho anh T số tiền 43.822.000đ tại Cơ quan Thi hành án, theo quyết định của bản án sơ thẩm. Tổng số tiền bị cáo đã bồi thường là 47.322.000đ. Việc bồi thường cho anh T, bị cáo đã thực hiện xong 100% số tiền phải bồi thường nên bị cáo H được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS.
Do thương tích của anh T cũng có mức độ, bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm nên có thể xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo như đại diện VKS đã đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo H đã khắc phục, bồi thường đầy đủ cho anh T số tiền phải bồi thường tại cấp phúc thẩm nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét,
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS;
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Chí H;
Sửa Bản án số 02/2019/HSST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện L về hình phạt đối với Nguyễn Chí H.
Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38, 54 BLHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Chí H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Công nhận bị cáo Nguyễn Chí H đã bồi thường tiếp cho anh Trương Công T số tiền 43.822.000đ tại Chi cục Thi hành án huyện L. Việc bồi thường của bị cáo đối với anh T đã thực hiện xong (Biên lai thu tiền số AA/2010/000619 ngày 06/5/2019 và Biên lại thu tiền số AA/2010/000622 ngày 20/5/2019 của Chi cục Thi hành án huyện L).
Bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà nội; - VKS Cấp cao tại Hà nội; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND huyện L; - TAND huyện L; - Công an huyện L; - Thi hành án HS, DS; - bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ. Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đều nhận thức được rằng, tính mạng sức khỏe của công dân là vốn quý, luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ mà bất k ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Chỉ vì thấy vợ đang ngồi ăn uống với người đàn ông khác nên bị cáo nghi ngờ vợ mình có tình ý với họ từ đó bị cáo nổi long ghen tuông và không kiềm chế được bản thân nên bị cáo chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, bị cáo dùng ly thủy tinh là loại hung khí nguy hiểm đánh vào vùng mặt bị hại làm vỡ ly đâm vào mặt bị hại gây thương tích cho bị hại hậu quả bị hại bị thương tích với tỷ lệ 34%, là thương tích rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống người bị hại, gây khó khăn lâu dài cho bị hại sau này, mặt khác hành vi phạm tội còn gây căm phẫn bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Xét về nhân 6 thân, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 01 tiền sự năm 2011 bị cáo, bị Công an phường Vĩnh Quang xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy". L ra bị cáo phải biết tu sửa bản thân làm người tốt mới phải, trái lại bị cáo lại lao vào con đường phạm tội và phạm tội rất nghiêm trọng...Do vậy, đứng trước phiên tòa hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra, HĐXX xét thấy hành vi pham tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải bị xử lý nghiêm mới tương xứng với tính chất hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này là cần thiết. [4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [5] Xét về tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động làm thuê, tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí điều trị và các khoản chi phí hợp lí khác cho bị hại và tại phiên tòa bị cáo tác đồng tích cực gia đình bồi thường trước một khoản tiền điều trị cho bị hai…Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b và p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Điều 47 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt dưới khung hình phạt cũng đủ nghiêm. [6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b và p khoản 1 Điều 46, Điều 47 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức án như Viện kiểm sát đã đề nghị như trên là phù hợp như nhận định của HĐXX. [7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại C yêu cầu T phải bồi thường các khoản chi phí gồm: - Tiền điều trị vết thương trong thời gian nằm viện là 30.921.000đ (Ba mươi triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng) - Tiền mất thu trong thời gian điều trị và chưa lao động được trong thời gian 06 tháng = 48.000.000đ (Bốn mươi tám triệu đồng); - Tiền tổn thất tinh thần là: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Tổng cộng là 98.921.000đ (Chín mươi tám triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng). 7 Đối với tiền chi phí thẩm mỹ, tại phiên tòa bị hại chưa cung cấp đầy đủ các chứng từ chữa trị cũng như s còn tiếp tục điều trị thêm. Bị hại C yêu cầu HĐXX tách phần yêu cầu này thành vụ kiện dân sự khác khi có có yêu cầu. HĐXX xét thấy bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản nêu trên là hoàn toàn phù hợp và có căn cứ nên cần buộc bị cáo phải bồi thường là cần thiết. Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền trên cho bị hại nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo cho người bị hại. Khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng mà tại phiên tòa vợ bị cáo bồi thường trước cho bị hại. Vì vậy, bị cáo còn phải tiếp tuc bồi thường số tiền còn lại cho bị hại Cao Thành C số tiền 93.921.000 đồng (Chín mươi ba triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn đồng) [8] * Về xử lý vật chứng: Vật chứng bị cáo dùng gây thương tích là ly thủy tinh bị vỡ, sau khi gây án nhân viên quan đã dọn dẹp vứt vào tM rác Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không xử lý. 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí [8] Về trách nhiệm dân sự: [8.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử gia đình bị cáo Hoàng Hốp M đã bồi thường cho anh Nguyễn Thành P số tiền là 5.000.000đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Văn P số tiền là 5.000.000đồng; gia đình bị cáo Nguyễn Long T bồi thường cho anh Nguyễn Thành P số tiền là 5.000.000đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Văn P số tiền là 25.000.000đồng; chị Lưu Thị P nộp thay cho bị cáo Lê Văn S số tiền 2.000.000đồng để bồi thường cho anh Nguyễn Văn P. [8.2] Như đã nhận định tại đoạn [3.2] thì các bị cáo Lê Văn S, Hoàng Hốp M và Nguyễn Long T phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Thành P, tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, anh Nguyễn Thành P có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết. [8.3] Tại phiên tòa, người bị hại Nguyễn Văn P yêu cầu các bị cáo Lê Văn S, Hoàng Hốp M, Nguyễn Long T phải liên đới bồi thường tổng số tiền là: 250.000.000đồng, bao gồm: Tiền viện phí là 40.213.694 đồng; Tiền thuê xe chuyển viện: 3.700.000đồng; Chi phí sinh hoạt trong thời gian điều trị: 25.000.000đồng; Tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị: 6.500.000đồng; Mất thu nhập trong thời gian phục hồi thương tích: 73.086.000đồng; Tiền mất thu nhập của người chăm sóc: 6.500.000đồng; Chi phí sinh hoạt tái khám: 5.000.000đồng; Thiệt hại về tổn thất tinh thần là 90.000.000đồng. Trong đó gia đình các bị cáo đã bồi thường số tiền là 32.000.000đồng, anh Phương đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền là: 218.000.000đồng. Xét các yêu cầu bồi thường của anh Nguyễn Văn P đưa ra là phù hợp với các quy định của pháp luật, tuy nhiên mức yêu cầu chưa hợp lý nên cần căn cứ Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để xem xét, cụ thể: - Chi phí điều trị tại bệnh viện có hóa đơn: 39.853.694đồng - Tiền thuê xe chuyển viện: 3.700.000đồng; - Thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị: Thời gian điều trị là 31 ngày trong đó điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Đ 02 ngày (từ ngày 20 đến ngày 21/12/2017); tại bệnh viện Chợ Rẫy là 05 ngày (từ ngày 21 đến ngày 25/12/2017); điều trị tại bệnh viện đa khoa Bưu Điện là 24 ngày (từ ngày 25/12/2017 đến ngày 17/01/2018). Do trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị hại có thu nhập thực tế nhưng không thể xác định được nên áp dụng mức thu nhập trung bình của người lao động cùng loại là lao động tự do với mức lương 11 thu nhập trung bình là 200.000 đồng/ngày và thu nhập thực tế của người chăm sóc trong thời gian người bị hại điều trị là 200.000đồng/ngày. Như vậy phần thu nhập thực tế của anh Nguyễn Văn P bị mất trong thời gian điều trị tại bệnh viện là: 6.200.000đồng (31 ngày x 200.000đồng/ngày); phần thu nhập thực tế của người chăm sóc là 6.200.000đồng; - Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: Tỷ lệ thương tích của anh Nguyễn Văn P theo kết luận giám định là: 52%, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho anh Nguyễn Văn P bằng 26 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm yêu cầu là: 33.800.000đồng (26tháng x 1.300.000đồng). - Đối với yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian phục hồi thương tích: Theo kết luận giám định anh Nguyễn Văn P bị thương tích với tỷ lệ 52%, tạm thời 06 tháng do đó cần chấp nhận khoản tiền bồi dưỡng sức khỏe sau chấn thương là: 36.000.000đồng (200.000đồng/ngày x 6 tháng). - Đối với chi phí tái khám, mặc dù anh P không có hóa đơn chứng từ chứng minh nhưng xét thấy đối với thương tích của anh P thì việc đi tái khám là cần thiết vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận chi phí tái khám là 3.000.000đồng. Tổng số tiền anh P được chấp nhận là: 128.753.000đồng. 2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và các Điều 584, Điều 585, Điều 587, Điều 590, Điều 594 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: 2.1. Buộc bị cáo Lê Văn S phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Văn P số tiền là: 71.753.000đ (bảy mốt triệu bảy trăm năm ba nghìn đồng) 3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: 3.1. Tịch thu, tiêu hủy 01 kiếm, 04 dao rựa, 01 mảnh kim loại, 01 bao xác rắn, 01 áo khoác, 01 áo thun và 01 quần Jean; 02 đôi dép của anh Nguyễn Văn P và bị cáo Nguyễn Long T; 4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 4.1. Buộc bị cáo Lê Văn S phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.587.650đ (Ba triệu năm trăm tám bảy nghìn sáu trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Héi thÈm ThÈm ph¸n - chñ täa phiªn tßa giờ 30 phút ngày 03/02/2017 Vì Anh Đức - sinh năm 1983 đã thực hiện hành vi dùng tay sờ mó, xoa vào bộ phận sinh dục (âm hộ) của cháu Phạm Thị Thanh Tâm, sinh ngày 09/5/2010, tại gia đình Vì Anh Đức ở thôn Kiên Minh, xã K, huyện L. Trong vụ án này, bị cáo chỉ dùng tay sờ mó bộ phận sinh dục của người bị hại nhằm thỏa mãn dục vọng của mình, chứ không có mục đích giao cấu với người bị hại. lêi khai t¹i c¬ quan ®iÒu tra, phï hîp c¸c tµi liÖu kh¸c ph¶n ¸nh trong hå s¬. tè nh b¶n c¸o tr¹ng, bÞ c¸o nhËn téi vµ kh«ng tranh ®ång xÐt xö xem xÐt gi¶m nhÑ TNHS v× bÞ c¸o rÊt hèi hËn, nhËn thøc râ ® îc nh÷ng sai ph¹m cña m×nh vµ høa sÏ c¶i t¹o tèt ®Ó trë thµnh c«ng d©n cã Ých. “Dâm ô đối với trẻ em”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 116 BLHS năm 1999. nh÷ng x©m ph¹m tíi trËt tù c«ng céng, nÕp sèng v¨n minh x· héi, tr¸i víi ®¹o ®øc truyÒn thèng, thuÇn phong mü tôc cña d©n téc, lµm ¶nh h ëng xÊu ®Õn ®êi sèng v¨n ho¸, trËt tù trÞ an, g©y ra nhiÒu hËu qu¶ kh«n l êng, làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ em. Do vËy hµnh vi cña bÞ c¸o lµ rÊt nghiªm träng cÇn ph¶i xö lý nghiªm. tiÒn ¸n, tiÒn sù; qu¸ tr×nh ®iÒu tra cũng như t¹i phiªn bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị ng êi d©n téc M êng; cã bè lµ ng êi cã c«ng víi c¸ch m¹ng ® îc tặng th ëng Huy ch ¬ng kh¸ng chiÕn hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba vì đã có thành tích phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam; người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nªn c¨n cø c¸c t×nh tiÕt quy ®Þnh t¹i ®iÓm b, p, h kho¶n 1, khoản 2 ĐiÒu 46 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 để gi¶m mét phÇn h×nh ph¹t cho bÞ c¸o. cáo ch a cã tiÒn ¸n, tiÒn sù, cã nhiÒu t×nh tiÕt gi¶m ph¶i c¸ch ly bÞ c¸o khái ®êi sèng x· héi mµ ¸p dông hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại kho¶n 1, 2 ĐiÒu 60 BLHS ®ối với bÞ c¸o, ®Ó cho bÞ c¸o cải tạo tại địa phương d íi sù c¸o c tró cũng ®ñ ®iÒu kiÖn ®Ó bÞ c¸o c¶i t¹o trở thành công dân sống có ý thức tuân theo pháp luật, cã Ých cho gia ®×nh vµ x· héi, đồng thời để giáo dục vµ phßng ngừa chung. ngày 06/02/2017, c¨n cø NghÞ quyÕt 01/2013/NQ – H§TP ngµy 06/11/2013 cña H§TP TANDTC thì thời gian này không được trừ khi quyết định hình phạt cho bị cáo. thuận thống nhất bồi thường toàn bộ thiệt hại, nên chấp nhận sự thỏa thuận của hai bên. vËt chứng của vụ án, kh«ng còn gi¸ trÞ, nªn cÇn c¨n cø Điều 41 BLHS năm 1999; ®iÓm a, ® kho¶n 2 ĐiÒu 76 BLTTHS năm 1999 để tÞch thu tiªu huû. khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bị cáo được miễn nộp tiền án phí HSST. V× c¸c lÏ trªn, trẻ em”. kho¶n 2 ĐiÒu 46; khoản 1,2 ĐiÒu 60 BLHS năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. giải quyết xong phần bồi thường thiệt hại. ®iÓm a, ® kho¶n 2 ĐiÒu 76 BLTTHS năm 1999. Thi hµnh ¸n d©n sù huyện L theo biªn b¶n giao, nhËn vËt chøng ngµy 18/4/2017 và phiếu xuất kho số NK 010 ngày 18/4/2017). 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm cho bị cáo Đức. cã quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 7, 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù. quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. | Dương Xuân Tuấn [9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 BLTTHS và Nghị quyết số HéI §ång xÐt xö s¬ thÈm nh©n d©n T¹i phiªn toµ bÞ c¸o Vì Anh Đức thõa nhËn: Khoảng 09 Lêi khai cña bÞ c¸o t¹i phiªn tßa thèng nhÊt víi §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t gi÷ nguyªn quyÕt ®Þnh truy luËn g× víi ®¹i diÖn VKS. Lêi sau cïng bị cáo ®Ò nghÞ Héi Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì Anh Đức phạm tội: Hµnh vi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, kh«ng Tuy nhiªn khi quyÕt ®Þnh møc h×nh ph¹t cÇn xem xÐt nh©n th©n, các tình tiết giảm nhẹ của bÞ c¸o: Bị cáo kh«ng cã tßa bị cáo ®· thµnh khÈn khai b¸o, thực sự ¨n n¨n hèi c¶i; cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, bị cáo lµ sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú và khai báo hành vi phạm tội của mình, Víi tÝnh chÊt vô ¸n và hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o, bị nhÑ, cã n¬i c tró æn ®Þnh; v× vËy xÐt kh«ng cÇn thiÕt giám s¸t, gi¸o dôc cña chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng n¬i bÞ Trong quá trình điều tra bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 03/02/2017 đến Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa VËt chøng: 01 chiếc quần của cháu Phạm Thị Thanh Tâm lµ Về án phí HSST: Do bị cáo là cá nhân hộ nghèo, nên căn cứ điểm đ QuyÕt ®Þnh Tuyªn bè: BÞ c¸o Vì Anh Đức ph¹m téi : “Dâm ô đối với ¸p dông: Kho¶n 1 ĐiÒu 116; ®iÓm b,p,h kho¶n 1, Xö ph¹t: Bị cáo Vì Anh Đức 09 ( chín ) tháng tù nhưng cho hưởng Giao bị cáo Vì Anh Đức cho UBND xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hóa Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo và gia đình người bị hại đã VËt chøng: áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999; kho¶n 1 - TÞch thu tiêu hủy 01 chiếc quần của cháu Phạm Thị Thanh Tâm. (VËt chøng trªn hiÖn ®ang t¹m gi÷ t¹i Chi côc Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số KÓ tõ khi b¶n ¸n cã hiÖu lùc ph¸p luËt, bÞ c¸o BÞ c¸o, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bị hại cã |