- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ Thị Ngọc E phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc E; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 112/2019/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2019/HS-PT Ngày 21 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Ông C Văn Kết
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hồng Kông – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 122/2019/TLPT-HS ngày 26 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc E; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 112/2019/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị Ngọc E, sinh năm 1978, tại Bạc Liêu; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm 6, phường 5, thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Khóm 5, phường 6, thành phố CM, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn Đ (đã chết) và bà: Trần Thị B; chồng: Nguyễn Thanh P, con: 01 người; tiền án, tiền sự: Không; cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/02/2019; bị cáo tại ngoại có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1958 (vắng mặt);
2. Bà Bùi Thị T, sinh năm 1960 (vắng mặt);
Cùng cư trú: Khóm 3, phường Láng Tròn, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thị Ngọc E là người làm thuê cho vợ chồng ông Nguyễn Thành C, bà Bùi Thị T tại khóm 5, phường 6, thành phố CM (chủ nhà xe Phước Thành) và có thuê phần trước nhà xe để bán nước giải khát. Biết vợ chồng ông C, bà T để tiền trong tủ ở phòng ngủ, Đỗ Thị Ngọc E nãy sinh ý định chiếm đoạt nên lén lấy chìa khóa tủ của ông C cất giấu chờ cơ hội mở tủ lấy tiền. Khoảng 07 giờ ngày 28/01/2019, khi bà T lên xe khách về Bạc Liêu, tại nhà xe chỉ còn ông C và Ngọc E. Lợi dụng lúc ông C kiểm tra vé xe, Ngọc E đi vào phòng ngủ dùng chìa khóa đã chuẩn bị trước mở tủ lấy 03 xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng, tổng cộng là 30.000.000 đồng bỏ vào túi quần rồi đi thẳng về nhà tại khóm 5, phường 6, thành phố Cà Mau cất giấu. Ngọc E ném chìa khóa xuống ao phía sau nhà, rồi trở lại nhà xe tiếp tục bán nước. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, ông C phát hiện bị mất 30.000.000 đồng, xem lại camera thấy Ngọc E có vào phòng ngủ. Ông C hỏi, Ngọc E không thừa nhận có trộm tiền. Ông C đến Công an phường 6, thành phố Cà Mau trình báo sự việc. Quá trình điều tra Đỗ Thị Ngọc E khai nhận đã lấy trộm của vợ chồng ông C số tiền 30.000.000 đồng và đã nộp lại đủ số tiền cho vợ chồng ông C.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 112/2019/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Thị Ngọc E 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29 tháng 6 năm 2019, bị cáo Đỗ Thị Ngọc E có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Lý do, bị cáo chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã ăn năn hối cải; đã khắc phục hậu quả xong; bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc E; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 112/2019/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo Đỗ Thị Ngọc E phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ cho thấy: Khoảng 07 giờ ngày 28/01/2019, lợi dụng sự sơ hở của gia đình ông Nguyễn Thành C, bà Bùi Thị T, bị cáo Đỗ Thị Ngọc E lẽn vào phòng ngủ, mở tủ lấy trộm 30.000.000 đồng đem về nhà cất giấu, mục đích chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Đỗ Thị Ngọc E đã xâm hại tài sản người khác trái pháp luật, chiếm đoạt trái phép tiền của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự. Án sơ thẩm số: 112/2019/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt bị cáo Đỗ Thị Ngọc E phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc E nhận thấy: Các lý do bị cáo nêu để xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo đã được án sơ thẩm xem xét trong quá trình lượng hình đối với bị cáo như: Bị cáo không tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục trả lại đủ tiền, được bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Ngọc E không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Hơn nữa, việc phạm tội của bị cáo có ý thức chuẩn bị từ trước, số tiền chiếm đoạt 30.000.000 đồng là lớn. Do đó, mức hình phạt 01 năm tù án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Đỗ Thị Ngọc E là tương xứng. Không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc E, cần giữ nguyên hình phạt bản án sơ thẩm đã xử nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Ngọc E; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 112/2019/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt: Đỗ Thị Ngọc E 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Đỗ Thị Ngọc E phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Công an thành phố Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Trọng Nhân |