vanban.org

Bản án 117/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 21/08/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không ch p nhận kháng cáo của anh Dương Đình H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2018/DSST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên như sau:

Áp dụng: Điều 26; Điều 34; Điều 264; Điều 266 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 106, Điều 203 Luật Đ t đai năm 2013; Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp uản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Ch p nhận yêu cầu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "NĐ: DƯƠNG VĂN Đ. BĐ: DƯƠNG VĂN TH. THÁI NGUYÊN"
  • Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của anh Dương Đình H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2018/DSST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Luật Đ t đai; Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự và mức án phí uy định
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 117/2019/DS-PT
Ngày: 21/8/2019
Vv: Tranh ch p uyền sử dụng đ t và
yêu cầu hủy Gi y chứng nhận uyền
sử dụng đ t”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hải Thanh;

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hưng;

Bà Nguyễn Phương Hạnh ;

Thư ký phiên toà: Bà Vy Minh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân c p cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở ,Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2018/TLPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2018 về việc Tranh ch p uyền sử dụng đ t và yêu cầu hủy Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t đ t” do có kháng cáo của người kế thừa uyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DSST ngày 03/4/2018 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7665/2019/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1953 (đã chết);

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con dâu của ông Đ, vợ của ông Dương Văn H). Có mặt.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Dương Văn Đ:

- Bà Đinh Thị Â, sinh năm 1936; Địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (vợ). Có mặt.

- Chị Dương Thị Đ, sinh năm 1956; Địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái).

- Anh Dương Văn H, sinh năm 1967; Địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai). Có mặt.

- Anh Dương Văn Năm, sinh năm 1971; Địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai). Có mặt.

- Anh Dương Văn Sáu, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai). Có mặt.

- Chị Dương Thị Lập, sinh năm 1955; Địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái).

- Anh Dương Văn H (con trai ông Đ, đã chết).

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của anh Dương Văn H:

+ Chị Trần Thị Hương; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (vợ anh H).

+ Anh Dương Văn Điệp; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai anh H).

+ Anh Dương Văn Linh; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai anh H).

+ Chị Dương Thị Hoa; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái anh H).

+ Chị Dương Thị Cúc; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái anh H).

+ Chị Dương Thị Lan; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái anh H).

Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị Hương, bà Đinh Thị Â, chị Dương Thị Đ, anh Dương Văn H, anh Dương Văn Năm, anh Dương Văn Sáu: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bị đơn: Ông Dương Văn Th, sinh năm 1942 (đã chết ngày 21/8/2018 - Âm lịch);

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Dương Đình H, sinh năm 1965; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh Dương Đình H:

- Ông Nguyễn Thiện Hiệp, bà Đặng Thị Ngọc H - Luật sư Công ty Luật TNHH Việt Tâm thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Bùi Hoa - Luật sư Văn phòng Luật sư Sao Mai thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Dương Văn Th:

- Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1942; Địa chỉ: Xóm Thượng Vụ 1, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (vợ); Có mặt.

- Anh Dương Văn Phong, sinh năm 1961; Địa chỉ: Xóm Thượng Vụ 1, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai); Có mặt.

- Anh Dương Văn Quang, sinh năm 1963; Địa chỉ: Xóm Thượng Vụ 1, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai); Có mặt.

- Anh Dương Đình H, sinh năm 1965; Địa chỉ: Xóm Thượng Vụ 1, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai); Có mặt.

- Anh Dương Văn Lễ, sinh năm 1968; Địa chỉ: Xóm Thượng Vụ 1, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai); Có mặt.

- Anh Dương Văn Bảy; Địa chỉ: Xóm Thượng Vụ 1, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con trai); Vắng mặt.

- Chị Dương Thị Đào, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm Tân Hòa, xã Vạn Phái, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái); Có mặt.

- Chị Dương Thị Lệ, sinh năm 1972; Địa chỉ: Xóm Tân Lập, xã Minh Đức, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái); Có mặt.

- Chị Dương Thị Tám, sinh năm 1976 ; Địa chỉ: Xóm Bến, xã Đắc Sơn, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái); Có mặt.

- Chị Dương Thị Chiến, sinh năm 1978; Địa chỉ: Xóm An Hòa, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (con gái); Có mặt.

3. Người có uyền lợi, nghĩa vụ liên uan:

- Ủy ban nhân dân thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tu n L, Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã PY. Vắng mặt.

- Hạt kiểm lâm thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tùng S, Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm thị xã PY. Vắng mặt.

- Anh Dương Văn H, sinh năm 1967. Có mặt.

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1974. Có mặt.

- Bà Đinh Thị Â, sinh năm 1936. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

- Bà Nguyễn Thị Ch. Địa chỉ: Xóm Thượng Vụ 1, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị D; địa chỉ: Xóm TV2, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

4. Người kháng cáo: Anh Dương Đình H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong uá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Dương Văn Đ, người được ủy uyền chị Nguyễn Thị H trình bày: Năm 1987, gia đình ông Dương Văn Đ có khai hoang đ t đai tại khu đ t rừng ven hồ Bờ Lâm, thuộc xóm TV2, xã TC, huyện PY, tỉnh Thái Nguyên (nay là thị xã PY). Trong quá trình sử dụng đ t, gia đình đã đào đ t, san l p mặt bằng xây dựng nhà để ở, đào ao thả cá và cho con trai là Dương Văn H uản lý, sử dụng khu đ t, sau khi gia đình anh H về ở trong làng, ông Đ lại tiếp tục cho vợ chồng con trai là anh Dương Văn H - chị Nguyễn Thị H sử dụng.

Năm 1990, khi Nhà nước triển khai dự án trồng rừng PAM tại địa bàn xã TC, gia đình ông Đ có rủ gia đình ông Th trồng rừng để l y tiêu chuẩn gạo do dự án trả. Do ông Đ trình độ văn hóa th p, không biết chữ nên toàn bộ mọi giao dịch, gi y tờ, trồng cây, l y gạo… do ông Th thực hiện với chính uyền địa phương và Hạt kiểm lâm huyện PY. Việc trồng rừng có ông Đ, anh H (con ông Đ) và ông Th cùng canh tác, trồng rừng.

Sau khi thống kê diện tích và số cây đã trồng, nhận gạo của dự án chia cho hai gia đình xong thì ông Th bỏ không canh tác, chăm sóc cây trồng nữa. Ông Đ xác định vào năm 1990 ông Đ chỉ rủ ông Th cùng canh tác trồng rừng theo dự án PAM để được nhận gạo của nhà nước, chứ không phải ông Đ gọi ông Th vào để chia đ t cho ông Th sử dụng. Dự án PAM trồng rừng th t bại, do không có người chăm sóc nên cây trồng bị trâu, bò phá hại không phát triển được. Khoảng cuối năm 1992, ông Đ cho vợ chồng con trai (anh H, chị H) vào tiếp uản toàn bộ khu đ t đã trồng rừng. Vợ chồng anh H, chị H có trồng thêm cây chè, vỡ ruộng, xây thêm 02 gian nhà trên đ t và sử dụng khu đ t đó từ năm 1993 đến nay. Hiện tại toàn bộ cây cối được trồng theo dự án PAM không còn nữa, thay vào đó anh H chị H chuyển sang trồng cây keo.

Khoảng cuối năm 2012, ông Đ có đề nghị cán bộ địa chính của Ủy ban nhân dân xã vào đo đ t để c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t, chính uyền xã có vào đo nhưng không làm thủ tục để c p đ t cho ông. Đến năm 2013, xảy ra việc tranh ch p đ t đai giữa gia đình ông và gia đình ông Th, lúc này ông Đ mới được biết việc gia đình ông Th đã được c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t thửa 12 diện tích 22.000m2; thửa số 02 diện tích 13.500m2 thuộc tờ bản đồ số 6 xã TC từ năm 1999, trong khi đó toàn bộ diện tích đ t con ông Đ anh H, chị H đang trực tiếp sử dụng trồng rừng (cây keo).

Ông Đ làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án công nhận uyền sử dụng đ t cho gia đình ông với diện tích đ t hiện nay anh H chị H đang sử dụng và đề nghị Tòa án hủy gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t đã c p cho hộ gia đình ông Th đối với diện tích đ t trên.

Bị đơn ông Dương Văn Th, người được ủy uyền anh Dương Đình H trình bày: Ông Th xác định vào năm 1990, khi dự án trồng rừng theo dự án PAM được triển khai tại địa bàn xã TC, gia đình ông và gia đình nhà ông Đ có cùng nhau trồng rừng ven hồ Bờ Lâm. Tại hợp đồng trồng rừng nhận trồng 5ha, chỉ có chữ ký của ông Dương Văn Th, mọi giao dịch với Hạt kiểm lâm huyện PY, ký kết hợp đồng, gi y tờ l y gạo ăn đều do ông Th trực tiếp ký kết, cả gia đình ông Th và gia đình ông Đ cùng trồng rừng, anh H không tham gia vào việc trồng rừng. Việc ông Đ và bà Â vợ ông Đ cho rằng gia đình ông bà khai hoang, sử dụng đ t từ năm 1987 là không đúng. Tại hợp đồng trồng rừng theo dự án PAM ông Dương Đình Th được giao trồng rừng tại lô số 1, lô số 2. Trong uá trình sử dụng đ t trâu bò phá hoại và do bị chặt trộm nên ông Th đã cho vợ chồng anh H, chị H mượn thửa 02 diện tích 1,35 ha để trồng cây và sử dụng liên tục từ đó đến nay, còn thửa 12, diện tích 2,22 ha gia đình ông Đ vẫn trồng, canh tác. Hiện tại trên đ t vẫn còn một số cây bạch đàn, 03 bụi tre do ông Th trồng. Thời gian mượn thì đã uá lâu, ông Th không nhớ chính xác, chỉ nhớ khoảng hơn 10 năm, khi cho mượn thì cũng không lập gi y tờ văn bản gì.

Năm 1999, ông Th đã được Nhà nước c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t số Q715531 ngày 17/12/1999 đối với hai thửa đ t gồm thửa đ t số 12 và thửa đ t số 02, tờ bản đồ số 6, trên cơ sở hợp đồng giao rừng được ký kết năm 1990. Khi làm thủ tục c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t thì chính uyền có vào đo đ t. Việc gia đình ông Đ, bà Â yêu cầu Tòa án công nhận uyền sử dụng đ t đối với diện tích đ t con của ông bà là anh H, chị H đang sử dụng, ông không nh t trí, vì ông đã được c p uyền sử dụng đ t hợp pháp đối với diện tích đ t trên. Quan điểm của ông Th xác định là cả hai gia đình đều trồng rừng, cùng có công đối với diện tích đ t đang tranh ch p, nên hướng của gia đình ông là chia đôi mỗi gia đình được sử dụng một nửa diện tích đang tranh ch p. Nếu gia đình ông Đ không đồng ý thì ông đề nghị Tòa án giải uyết theo uy định của pháp luật.

Đại diện Ủy ban nhân dân thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên có uan điểm: Năm 1987, hộ gia đình ông Dương Văn Đ có khai hoang đ t tại khu vực đồi gần hồ Bờ Lâm, xóm TV2, xã TC, huyện PY để trồng sắn và hoa mầu. Đến năm 1990, thực hiện dự án trồng rừng PAM (Dự án 3352), ông Đ cùng ông Th có nhận trồng rừng cho dự án để l y gạo ăn trên thửa đ t này (trong bản đồ PAM là lô 1 (69) và lô 2 (70), khoảnh 6, tờ 1, tiểu khu 430B, bản đồ giao đ t lâm nghiệp năm 1999. Do ông Đ không biết chữ nên ông Th đứng tên ký hợp đồng trồng rừng PAM với diện tích 5ha và sau này được nghiệm thu với diện tích thực tế là 3,55 ha. Năm 1999, thực hiện chủ trương của nhà nước về việc c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t Lâm nghiệp cho các hộ dân được giao đ t trồng rừng PAM trên địa bàn toàn huyện, Phòng địa chính huyện (nay là phòng Tài nguyên và Môi trường) đã phối hợp với các xã, thị tr n lập hồ sơ kê khai c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho các hộ dân theo danh sách của hồ sơ giao rừng. Trên cơ sở hồ sơ được Hạt kiểm lâm huyện PY chuyển sang là Quyết định giao đ t Lâm nghiệp cho các hộ gia đình, phòng Địa chính huyện đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho các hộ dân. Trong đó hộ ông Dương Văn Th ở xóm Thượng Vụ, xã TC là người đứng tên ký hợp đồng trồng rừng PAM nên được làm thủ tục c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t thửa 12, tờ bản đồ số 6, diện tích 2,2 ha và thửa số 2, tờ bản đồ số 6, diện tích 1,35 ha. Trong khi đó, theo hồ sơ giao đ t rừng được uản lý tại các cơ uan chức năng thì nhà ông Th được giao tại lô số 1 (69), khoảnh 6, diện tích 2,2 ha và lô số 2 (70), khoảnh 6, diện tích 1,35 ha. Qua xác minh, tại thời điểm được c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t thì hộ ông Th không canh tác trên thửa đ t này, không có tài sản trên đ t thuộc uyền uản lý sử dụng của nhà ông Th. Như vậy, việc c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho hộ ông Dương Văn Th năm 1999 trong khi thực tế hộ ông Th không sử dụng thửa đ t này là chưa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo uy định của Luật Đ t đai. Do khâu lưu trữ bảo uản hồ sơ của Phòng tài nguyên và Môi trường không tốt nên hồ sơ c p gi y chứng nhận của hộ ông Dương Văn Th ở xóm TV2, xã TC đã bị th t lạc không tìm th y được. Đề nghị Tòa án xem xét giải uyết theo uy định của pháp luật.

Đại diện Hạt kiểm lâm thị xã PY có uan điểm: Dự án PAM được thực hiện trên địa bàn huyện PY từ năm 1989, tại địa bàn xã TC thực hiện năm 1990 và kết thúc năm 1992. Về uy trình thực hiện việc ký kết hợp đồng là do hộ gia đình đăng ký với xóm, xóm đăng ký với xã, sau đó xã lập danh sách gửi về Ban uản lý dự án PAM. Ban uản lý ký kết hợp đồng với Công ty tư v n khảo sát thiết kế uy hoạch lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Sau khi có số đo cụ thể, ban uản lý dự án bắt đầu ký kết với các hộ dân đã đăng ký. Việc ký kết hợp đồng trồng rừng giữa ban uản lý dự án với người đứng tên kê khai ký hợp đồng là ông Dương Văn Th, theo thiết kế được thể hiện tại lô 69, 70 với tổng diện tích 5ha. Tại thời điểm năm 1990, việc ký kết hợp đồng trồng rừng với các hộ dân không đồng nh t với việc giao đ t cho các hộ. Người ký kết hợp đồng trồng rừng chỉ được trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng, hưởng tài sản trên diện tích trồng rừng và được hưởng các chế độ theo uy định của dự án. Năm 1992, thực hiện việc nghiệm thu dự án PAM tại địa phận xã TC, ông Th được nghiệm thu với tổng diện tích 3,55ha. Sau khi nghiệm thu, các hộ dân tự chăm sóc, bảo uản và được hưởng hoa lợi trên toàn bộ diện tích đ t đã trồng rừng. Năm 1998, theo chủ trương của tỉnh Thái Nguyên kiểm kê lại toàn bộ diện tích đ t trồng rừng PAM làm cơ sở cho việc giao đ t cho các hộ dân đã trồng rừng. Trên cơ sở đó, Ban uản lý dự án cung c p hồ sơ theo kiểm kê của Công ty tư v n khảo sát thiết kế lâm nghiệp năm 1998, trong đó có hợp đồng trồng rừng của ông Dương Văn Th cho Ủy ban nhân dân huyện PY làm cơ sở cho việc c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho ông Th. Quan điểm của Hạt kiểm lâm thị xã PY là hai bên gia đình nên thỏa thuận giải uyết bằng tình cảm để giữ mối uan hệ tình làng, nghĩa xóm. Trong trường hợp hai bên gia đình không giải uyết tình cảm được đề nghị Tòa án giải uyết theo uy định Pháp luật.

Những người làm chứng gồm bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn Th trình bày: Ông bà biết năm 1990 ông Đ, ông Th có rủ nhau trồng rừng theo dự án PAM cho Nhà nước để l y gạo ăn, sau khi trồng rừng và nhận gạo từ dự án thì chỉ th y có gia đình ông Đ và các con của ông Đ canh tác, sử dụng liên tục diện tích đ t này, tài sản hình thành trên đ t là của gia đình ông Đ.

Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 25/7/2017, xác định hiện trạng sử dụng đ t theo bản đồ giao đ t lâm nghiệp năm 1999.

Thửa số 1 (1) diện tích: 16.828m2. Thửa số 2 (2) diện tích: 8.91lm2, thuộc khoảnh 6, tờ 1, tiểu khu 430B, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên, theo bản trích đo hiện trạng thửa đ t ngày 25/7/2017. Trên đ t có nhà và công trình phụ khác, cây cối trên đ t chủ yếu là cây keo.

Định giá tài sản:

Thửa số 1 (1) diện tích: 16.828m2 x 12.0000 đồng/m2 = 201.936.0000 đồng.

Thửa số 2 (2) diện tích: 8.91lm2 X 12.0000 đồng/m2 = 106.932.0000 đồng.

Tổng giá trị uyền sử dụng đ t: (201.936.0000 đồng + 106.932.0000 đồng) = 308.868.0000 đồng.

Cây keo trồng trồng khoảng năm 2004, mật độ cây 1490 cây/ha: 2150 cây X 50.0000 đồng/cây = 107.500.0000 đồng.

Cây keo trồng trồng năm 2017, mật độ cây 2670 cây/ha: 2379 cây X 2.0000 đồng/cây = 4.758.0000 đồng.

Tài sản là nhà các công trình phụ khác đã hết kh u hao, không còn giá trị sử dụng nên không định giá.

Tổng giá trị tài sản trên đ t: (107.500.0000 đồng + 4.758.0000 đồng) = 112.258.0000 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 03/2018/DSST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã uyết định:

Áp dụng: Điều 26; Điều 34; Điều 264; Điều 266 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 106, Điều 203 Luật Đ t đai năm 2013; Căn cứ Nghị uyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện tranh ch p uyền sử dụng đ t giữa ông Dương Văn Đ với ông Dương Văn Th. Công nhận và giao uyền sử dụng đ t cho ông Dương Văn Đ uản lý, sử dụng thửa đ t số 1 (1) diện tích 16.828m2 và thửa đ t số 2 (2) diện tích 8.911m2, thuộc khoảnh 6, tờ 1, tiểu khu 430B, theo bản đồ giao đ t Lâm nghiệp năm 1999, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên, được xác định tại bản trích đo hiện trạng thửa đ t ngày 25/7/2017 (có sơ đồ kèm theo).

Hủy toàn bộ gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t số Q715531 ngày 17/12/1999 do Ủy ban nhân dân huyện PY c p mang tên hộ ông Dương Văn Th đối với thửa đ t số 12 diện tích 22.000m2 và thửa đ t số 02 diện tích 13.500m2, tờ bản đồ số 6, xã TC, huyện PY, tỉnh Thái Nguyên.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn uyết định về án phí và thông báo uyền kháng cáo theo uy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/4/2018, anh Dương Đình H có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được nhau về việc giải uyết vụ án.

Người bảo vệ uyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có uan điểm: Nguồn gốc đ t tranh ch p cả hai bên đều nói rằng là của mình khai phá, đ t là đ t hoang hóa, luật sư cũng có tìm hiểu và l y lời khai của người làm chứng đều chứng minh đ t là của ông Dương Văn Th. Nguồn gốc đ t tranh ch p là của cá nhân hay đ t hoang hóa thì cần phải xác minh. Nguyên đơn xác định đ t là do gia đình khai phá trước khi có dự án PAM, phía bị đơn khi trồng rừng PAM thì không th y có d u vết của việc khai phá từ trước. Nhân chứng của hai bên đều xác định nguồn gốc đ t trước khi thực hiện dự án PAM không thuộc uyền uản lý của ai. Sau khi dự án PAM kết thúc, nhà nước triển khai giao cho các hộ dân có tên hợp đồng trồng rừng c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t thì trong đó có hộ ông Dương Văn Th. Việc c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho ông Th là đại trà, không phải cho riêng gia đình ông Th, giao theo một uy trình chung. Quy trình này hoàn toàn đúng uy định của pháp luật, việc c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t là đúng uy trình, đúng thẩm uyền, đúng đối tượng. Sau 14 năm c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t thì mới xảy ra tranh ch p. Theo uy định của pháp luật thì thời hạn khởi kiện uyết định này là 01 năm. Việc c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t là đại trà, mở rộng, công khai, vậy mà phía gia đình chị H không có ý kiến gì. Trong uyết định hành chính của Ủy ban nhân dân huyện giao đ t cho ông Th, nếu bản án có hiệu lực pháp luật thì xảy ra hậu uả pháp lý nghiêm trọng, ông Th không có lỗi trong việc này. Người có lỗi trong việc ra uyết định trái pháp luật thì phải chịu xử lý theo uy định của pháp luật khi đã gây thiệt hại cho gia đình ông Th. Để giải uyết hậu uả này thì ngoài việc xử lý hình sự còn phải có trách nhiệm bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, điều tra xác minh lại vụ án.

Đại diện nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H có uan điểm không đồng ý với ý kiến của luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên uyết định của Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân c p cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa có uan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng uy định của pháp luật, bảo đảm; việc tham gia phiên tòa của đương sự theo đúng uy định của pháp luật. Đương sự ch p hành đúng uy định của pháp luật. Kháng cáo của bị đơn trong thời hạn kháng cáo nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án có căn cứ khẳng định diện tích đ t tranh ch p là do ông Đ khai phá, sử dụng ổn định đến nay. Năm 1990, khi nhà nước triển khai dự án PAM thì gia đình ông Đ có rủ ông Th cùng thực hiện. Do ông Đ trình độ văn hóa th p, không biết chữ nên toàn bộ thủ tục giao dịch, gi y tờ, l y gạo do ông Th thực hiện với chính uyền địa phương và Hạt kiểm lâm, vì vậy các thủ tục gi y tờ có liên quan đến dự án PAM đều do ông Th thực hiện và đứng tên ông Dương Văn Th. Sau khi dự án PAM kết thúc thì Ủy ban nhân dân đã c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho ông Th. Tuy ông Th được c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t nhưng gia đình ông Th không uản lý và sử dụng diện tích đ t này, trên đ t không có tài sản của ông Th. Theo báo cáo số 15 ngày 25/8/2015 của Ủy ban nhân dân xã TC và Biên bản xem xét thẩm định ngày 25/8/2017 thì trong Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t của ông Dương Văn Th thì ông Th có uyền sử dụng đ t đối với thửa số 12 diện tích 22.000m2 và thửa số 02 diện tích 13.500m2 cùng tờ bản đố số 6, xã TC huyện PY nhưng diện tích đ t tranh ch p lại xác định là thửa số 1 diện tích 16.828m2, thửa số 2 có diện tích 8.911m2 thuộc khoảnh 6, tờ 1, tiểu khu 430B, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên. Như vậy, có thể th y diện tích đ t ông Th được c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t là không đúng với nguồn gốc sử dụng, không đúng vị trí vị trí của thửa đ t, tờ bản đồ và diện tích. Do đó Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, hủy Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t c p cho ông Th là có căn cứ, đúng uy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên uyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, Người bảo vệ uyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và uan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân c p cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, xét kháng cáo của anh Dương Đình H, Hội đồng xét xử xét th y:

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đ t đang tranh ch p:

Nguồn gốc diện tích đ t có tranh ch p giữa gia đình ông Đ với gia đình ông Th, do gia đình ông Đ khai phá sử dụng từ năm 1987, gia đình đầu tư công sức san l p tạo mặt bằng xây dựng nhà ở, cải tạo đ t trồng chè, cây nông sản khác, thời gian đầu giao cho anh Dương Văn H con ông Đ canh tác. Năm 1990 khi Nhà nước triển khai dự án trồng rừng PAM tại địa bàn xã TC, gia đình ông Đ có rủ gia đình ông Th trồng rừng cho dự án, được Dự án PAM trả công bằng lương thực (gạo). Do ông Đ trình độ văn hóa th p không biết chữ nên toàn bộ mọi giao dịch, gi y tờ, nhận gạo với Dự án đều do ông Th thực hiện với chính uyền địa phương và Hạt kiểm lâm huyện PY nên đều đứng tên ông Dương Văn Th. Sau khi trồng cây theo kế hoạch, thống kê diện tích trồng rừng l y gạo ăn xong, ông Th bỏ không chăm sóc cây trồng nữa. Nhận định này tại Bản án sơ thẩm phù hợp với tài liệu cung c p của chính uyền địa phương và những người làm chứng.

Khoảng cuối năm 1992, ông Đ đã cho vợ chồng con trai (anh H, chị H) vào tiếp uản toàn bộ khu đ t đã trồng rừng. Vợ chồng anh H, chị H có trồng thêm cây chè, vỡ ruộng, xây thêm 02 gian nhà trên đ t và sử dụng khu đ t đó từ năm 1993 đến nay. Hiện tại toàn bộ cây cối được trồng theo dự án PAM không còn nữa,vợ chồng anh H chị H chuyển sang trồng cây keo, phát triển kinh tế đồi rừng tạo nên thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống cho gia đình. Trong uá trình uản lý, sử dụng đ t anh H và chị H đã xây dựng ranh giới, chỉ giới đ t (Đào hào, rãnh) để uản lý, tạo ranh giới rõ ràng được thừa nhận và không có tranh ch p với các hộ sử dụng đ t liền kề.

Như vậy có thể th y từ năm 1987, gia đình ông Th đã khai phá, uản lý, sử dụng đ t liên tục, gia đình đã đầu tư công sức cải tạo đ t, xây dựng công trình trên đ t, cho đến nay trên toàn bộ diện tích đ t được sử dụng để trồng cây keo, do anh H chị H và trồng chăm sóc. Tại phiên tòa sơ thẩm anh Dương Đình H là đại diện theo ủy uyền của ông Th cũng thừa nhận và không tranh ch p về tài sản trên đ t.

Năm 2013, xảy ra tranh ch p đ t đai giữa hai gia đình ông Đ và ông Th, Ủy ban nhân dân xã TC đã tổ chức hòa giải nhưng các bên không thống nh t được với nhau về việc giải uyết tranh ch p. Năm 2017, trong khi vụ án tranh ch p đ t đai đã được Tòa án thụ lý đang trong uá trình giải uyết, gia đình ông Th cho người vào dựng nhà và trồng một số cây keo non trên diện tích đ t tranh ch p, ngày 29/8 và ngày 07/9 năm 2017 Ủy ban nhân dân xã TC đã tiến hành lập biên bản kiểm tra và xác định: “Trên đất có một ngôi nhà mới được xây dựng có chiêu dài 5m, chiều rộng 3m, chiều cao 2,5m, vật liệu là ong kẽm và tôn, nhà được lợp mái và quây tường bằng tấm tôn... hiện trạng trên đất còn một số cây keo non mới trồng...qua xác minh của nhân dân ngôi nhà trên đất là do ông Dương Văn Hào mới xây dựng’’. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Hào cho biết ngôi nhà này đã hư hỏng, không còn giá trị sử dụng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác như uan điểm của Ủy ban nhân dân thị xã PY, của Hạt kiểm lâm thị xã PY và lời khai của những người làm chứng, có đủ cơ sở để khẳng định diện tích đ t đang có tranh ch p giữa gia đình ông Đ và gia đình ông Th, có nguồn gốc hợp pháp do gia đình ông Đ khai phá, uản lý, sử dụng, ổn định, liên tục.

Xét kháng cáo của bị đơn không ch p nhận việc Bản án sơ thẩm hủy gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t số Q715531 ngày 17/12/1999, mang tên ông Dương Văn Th đối với thửa số 12 diện tích 22.000m2, và thửa đ t số 02 diện tích 13.500m2 tờ bản đồ số 6.

Năm 1990 khi Nhà nước triển khai dự án trồng rừng PAM tại địa bàn xã TC, gia đình ông Đ có rủ gia đình ông Th trồng rừng cho dự án để được hưởng lương thực, do ông Đ trình độ văn hóa th p nên toàn bộ mọi giao dịch, gi y tờ, l y gạo do ông Th thực hiện với chính uyền địa phương và Hạt kiểm lâm huyện PY, vì vậy các thủ tục gi y tờ có liên uan đến đến việc thực hiện dự án trồng rừng PAM đều do ông Th thực hiện và đứng tên ông Dương Văn Th.

Năm 1999, Ủy ban nhân dân huyện PY (Nay là thị xã PY) thực hiện việc c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân có sử dụng đ t lâm nghiệp trên địa bàn huyện, Phòng địa chính (Nay là Phòng tài nguyên và môi trường) phối hợp với Ủy ban nhân dân c p xã lập hồ sơ kê khai c p Gi y chứng nhận uyền sử dựng đ t cho các hộ gia đình, cá nhân theo danh sách của hồ sơ giao rừng. Trên cơ sở hồ sơ được Hạt kiểm lâm huyện chuyển sang là uyết định giao đ t Lâm nghiệp cho các hộ gia đình, phòng tài nguyên và môi trường đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện PY c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho các cá nhân, hộ gia đình, trong đó hộ gia đình ông Dương Văn Th được c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t số Q715531 ngày 17/12/1999, đối với thửa đ t số 12 diện tích 22.000m2 và thửa đ t số 02 diện tích 13.500m2, cùng tờ bản đồ số 6 xã TC, huyện PY. Tuy được c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t nhưng trên thực tế gia đình ông Th không uản lý sử dụng diện tích đ t này, trên đ t không có tài sản của gia đình ông Th (nhận định ở phần [1] ).

Ủy ban nhân dân huyện PY hiện không còn luu giữ được hồ sơ c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho hộ gia đình ông Dương Văn Th (Do th t lạc không tìm th y). Qua xác minh, thu thập chứng cứ và uá trình tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định: Diện tích đ t được Ủy ban nhân dân huyện PY c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t cho hộ ông Dương Văn Th, theo biểu thống kê diện tích giao đ t Lâm nghiệp năm 1999, thuộc tiểu khu 430B, khoảnh 6, lô 1 (69), diện tích 2,20ha, lô 2 (70) diện tích l,35ha, theo bản đồ giao đ t Lâm nghiệp năm 1999, xã TC, huyện PY.

Theo báo cáo số 15/BC-UBND ngày 25/8/2015 của Ủy ban nhân dân xã TC, và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thị xã Phố Yên ngày 29/7/2015, diện tích đ t tranh ch p thuộc thửa 21 và 22 tờ bản đồ địa chính số 27 và thửa số 10 tờ bản đồ địa chính số 28, bản đồ địa chính xã TC. Đối chiếu với bản đồ địa giới hành chính thì phần lớn diện tích đ t đang có tranh ch p thuộc địa giới hành chính xã Vạn Phái, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên.

Căn cứ biên bản thẩm định tại chỗ và kết hợp đo vẽ hiện trạng của diện tích đ t có tranh ch p ngày 25/7/2017, theo bản đồ giao đ t Lâm nghiệp năm 1999, xác định: Thửa số 1 diện tích: 16.828m2. Thửa số 2 diện tích: 8.91lm2, thuộc khoảnh 6, tờ 1, tiểu khu 430B, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên (theo bản trích đo hiện trạng thửa đ t ngày 25/7/2017).

Như vậy, hộ gia đình ông Dương Văn Th được c p Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t số Q715531 ngày l7/12/1999 đối với thửa đ t số 12 diện tích 22.000m2 và thửa đ t số 02 diện tích 13.500m2, cùng tờ bản đồ số 6 xã TC, huyện PY, tỉnh Thái Nguyên là không đúng với nguồn gốc và hiện trạng uản lý sử dụng đ t, không đúng số thửa đ t, không đúng số tờ bản đồ, không đúng diện tích của thửa đ t. Tại thời điểm c p gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t hộ gia đình ông Th không uản lý, sử dụng đ t.

Do đó, bản án sơ thẩm đã ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn Đ. Công nhận uyền sử dụng đ t đang tranh ch p cho ông Dương Văn Đ; hủy Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t số Q715531 ngày 17/12/1999 do Ủy ban nhân dân huyện PY (nay là thị xã PY) c p cho ông Dương Văn Th là có căn cứ, đúng pháp luật.

Quan điểm của Người bảo vệ uyền và lợi ích hợp pháp của anh Dương Đình H về việc hủy bản án sơ thẩm không được Hội đồng xét xử ch p nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân c p cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa về việc không ch p nhận kháng cáo của anh Dương Đình H, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với uy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ch p nhận.

Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự và mức án phí uy định tại Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp uản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Do kháng cáo không được ch p nhận nên ông Th phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không ch p nhận kháng cáo của anh Dương Đình H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 03/2018/DSST ngày 03/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên như sau:

1. Áp dụng: Điều 26; Điều 34; Điều 264; Điều 266 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 106, Điều 203 Luật Đ t đai năm 2013; Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp uản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện tranh ch p uyền sử dụng đ t của ông Dương Văn Đ với ông Dương Văn Th. Công nhận ông Dương Văn Đ có uyền uản lý, sử dụng thửa đ t số 1 (1) diện tích 16.828m2 và thửa đ t số 2 (2) diện tích 8.911m2, thuộc khoảnh 6, tờ 1, tiểu khu 430B, theo bản đồ giao đ t Lâm nghiệp năm 1999, xã TC, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên, được xác định tại bản trích đo hiện trạng thửa đ t ngày 25/7/2017 (có sơ đồ kèm theo).

Hủy toàn bộ Gi y chứng nhận uyền sử dụng đ t số Q715531 ngày 17/12/1999 do Ủy ban nhân dân huyện PY c p mang tên hộ ông Dương Văn Th đối với thửa đ t số 12 diện tích 22.000m2 và thửa đ t số 02 diện tích 13.500m2, tờ bản đồ số 6, xã TC, huyện PY, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Dương Đình H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng anh Dương Đình H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 00008800 ngày 16/4/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

3. Các uyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Cỡ chữ