- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội trộm cắp tài sản: “Tuyên bố: Huỳnh Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Huỳnh Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hàn…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 117/2018/HSST Ngày: 29/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Ngô Anh Hồng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 541/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn D, sinh năm: 1969, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 328/8 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn Quang (chết) và bà Huỳnh Thị Hợi (chết); có vợ Nguyễn Thị Huệ (đã ly hôn) và có hai con, lớn nhất sinh năm: 1990, nhỏ nhất sinh năm: 1991; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/02/1991 bị Toà án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” nhưng cho hưởng án treo theo bản án số: 18/HS-ST; ngày 15/7/1994 bị Toà án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 16 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” theo bản án số: 141/HS-ST; ngày 18/4/1998 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số: 692/HSST; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/4/2018 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có mặt)
Người bị hại: Ông Ngô Văn Út, sinh năm: 1981
Nơi cư trú: 253 Đoàn Văn Bơ, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Huỳnh Em, sinh năm: 1989
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 174/20/1 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Quang, Rạch Giá, Kiên Giang. Chổ ở: 42 Đường số 25A, phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 21/4/2018, Huỳnh Văn D đi bộ đến nhà chờ xe buýt trước Cung văn hoá lao động, số 55B đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Thành, Quận 1 phát hiện ông Ngô Văn Út đang nằm ngủ tại băng ghế nhà chờ xe buýt bên cạnh có dựng 01 xe gắn máy hiệu Honda, biển kiểm soát 68X1 – 144.94. Quan sát xung quanh không có ai nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông Út, mục đích sử dụng làm phương tiện chạy xe ôm kiếm sống. D đi lại chỗ ông Út nằm thì thấy chìa khoá chiếc xe trên nằm dưới đất nên Dũng nhặt chìa khoá xe, cắm vào ổ khoá và khởi động xe điều khiển tẩu thoát theo hướng đường Huyền Trân Công Chúa thì bị Công an Quận 1 đang trên đường tuần tra phát hiện, truy đuổi D đến giao lộ đường Nguyễn Thị Minh Khai và Huyền Trân Công Chúa thuộc địa bàn phường Bến Thành, Quận 1 thì bắt giữ được D cùng vật chứng giao Công an phường Bến Thành, Quận 1 lập biên bản xử lý. Theo bản kết luận số: 121/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận 01 xe gắn máy hiệu Honda, biển kiểm soát 68X1 – 144.94 trị giá 10.333.000 đồng. Tại cơ quan điều tra, Huỳnh Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bản cáo trạng số: 01/QĐ-VKS Q1 ngày 20/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: 01 xe gắn máy hiệu Honda, biển kiểm soát 68X1 – 144.94, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho người bị hại nên không xem xét.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tường trình, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá,… nên có căn cứ để kết luận, bị cáo Huỳnh Văn D đã có hành vi lợi dụng sự không để ý của ông Út lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Honda, biển kiểm soát 68X1 – 144.94 của ông Út. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Văn D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương, trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 10.333.000 đồng, bị cáo có nhân thân rất xấu đã bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản của công dân và tội cướp giật tài sản của công dân nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người lương thiện có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe kẻ khác góp phần phòng ngừa chung cho xã hội. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại và tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo. [6] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng của vụ án: Đối với xe gắn máy hiệu Honda, biển kiểm soát 68X1 – 144.94. Qua xác minh do ông Nguyễn Hùng Em, sinh năm: 1989, trú tại: 174/20/1 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Quang, Rạch Giá, Kiên Giang đứng tên chủ sở hữu, ông Em cho ông Ngô Văn Út mượn xe để sử dụng Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Út là người bị hại và ông Út đã trả lại chiếc xe trên cho ông Em (bút lục 38, 39, 40). Ông Út và ông Em không có yêu cầu nào nên không xem xét. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội trộm cắp tài sản: “Tuyên bố: Huỳnh Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Huỳnh Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2018. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Huỳnh Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP.HCM; - Chi cục THADS Quận 1, TP.HCM; - Công an Quận 1, TP.HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Ngọc Tuân Huỳnh Ngọc Tuân |