- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1168/2025/DS-ST Ngày: 26/9/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Lợi;
2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu – Thư ký Tòa án Khu Vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Khu Vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1340/2025/TLST-DS ngày 30/5/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 983/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2252/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A
Địa chỉ: 266-268 đường N, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1975; Địa chỉ: 16/3 đường N, phường T, TP.Hồ Chí Minh – (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
(theo văn bản ủy quyền số 1433/2025/UQ-TT-XLN lập ngày 11/4/2025 của Ngân hàng thương mại cổ phần A).
2. Bị đơn: Ông Phạm Trọng N, sinh năm 1987 – (vắng mặt)
Nơi cư trú: 112 Khu E, đường L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
(1) Nội dung nguyên đơn khởi kiện cho rằng: Ông Phạm Trọng N có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần A (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 28/3/2023 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng, kiêm giấy nhận nợ số LD0000223006 ngày 31/3/2023 - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể như sau:
- Loại thẻ Visa; Số thẻ: 436438-4114; Hạn mức 50.000.000 đồng; Ngày ký hợp đồng: 28/3/2023; Lãi suất áp dụng: 2.48%.
- Loại thẻ: VTD; Số thẻ: 211251-3260; Hạn mức 50.000.000 đồng; Ngày ký hợp đồng: 31/3/2023; Lãi suất áp dụng: 2.69%.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 99.400.000 đồng (trong đó bao gồm thẻ tín dụng số 436438-4114 có tổng số tiền giao dịch là 17.400.000 đồng và thẻ tín dụng sô 211251-3260 có tổng số tiền giao là 82.000.000 đồng). Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 60.162.241 đồng (gồm thẻ tín dụng 436438-4114 thanh toán được 2.940.568 đồng và thẻ tín dụng số 211251-3260 thanh toán được 57.221.673 đồng), thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán được thỏa thuận tại Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do vậy, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là căn cứ theo quy định tại Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử vụ kiện (ngày 26/9/2025) ông N còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 51.975.459 đồng (gồm thẻ tín dụng số 436438-4114 còn nợ 19.669.132 đồng và thẻ tín dụng sô 211251-3260 còn nợ 32.306.327 đồng) và tổng tiền lãi quá hạn còn nợ là 37.607.186 đồng (gồm thẻ tín dụng số 436438-4114 còn nợ 13.726.186 đồng và thẻ tín dụng sô 211251-3260 còn nợ 23.881.000 đồng).
Mặc dù, Ngân hàng đã yêu cầu ông N phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, tuy nhiên ông N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm nghiêm trọng các điều khoản hai bên đã thỏa thuận được quy định tại Hợp đồng tín dụng. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Phạm Trọng N phải trả ngay cho Ngân hàng thương mại cổ phần A tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2025 là 89.582.645 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 51.975.459 đồng và tiền lãi quá hạn 37.607.186 đồng).
- Buộc ông Phạm Trọng N phải tiếp tục thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần A tính từ ngày 27/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất được quy định tại Hợp đồng đã ký giữa các bên.
(2) Bị đơn ông Phạm Trọng N không hợp tác khi được Tòa án triệu tập đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện, ông N liên tục vắng mặt không có lý do, khi được Tòa án triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất.
(3) Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai: Bị đơn ông Phạm Trọng N vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Văn Bình có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên.
(4) Đại diện Viện kiểm sát Khu Vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt đề nghị Tòa án chấp nhận. Bị đơn ông Phạm Trọng N vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Tòa án tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Về nội dung vụ án: yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần A với ông Phạm Trọng N phát sinh quan hệ tranh chấp từ hợp đồng vay tài sản thuộc trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Bị đơn ông Phạm Trọng N đăng ký thường trú và thực tế đang cư trú tại địa chỉ 112 Khu E, Lê Văn Thịnh, khu phố 38, phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Khu Vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Trọng N tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy, Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 28/3/2023 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng, kiêm giấy nhận nợ số LD0000223006 ngày 31/3/2023 - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) giữa ông Phạm Trọng N với Ngân hàng thương mại cổ phần A là hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các điều 91 và 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc trách nhiệm buộc các bên phải thực hiện. Căn cứ Hợp đồng đã giao kết giữa các bên, sự thừa nhận và không phản đối của các bên đương sự theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có cơ sở xác định: Ngày 28/3/2023, ông Phạm Trọng N được Ngân hàng thương mại cổ phần A cấp 02 thẻ tín dụng là thẻ Visa có số thẻ 436438-4114 và thẻ VTD có số thẻ 211251-3260, hạn mức sử dụng từ thẻ là 50.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận theo điều chỉnh của ngân hàng tương ứng từng giai đoan thanh toán, với cùng mục đích sử dụng là tiêu dùng cá nhân.
- Đối với loại thẻ tín dụng Visa số thẻ 436438-4114 tính đến ngày 26/9/2025, ông Phạm Trọng N đã thực hiện các giao dịch của thẻ tín dụng với tổng số tiền là 17.400.000 đồng, nợ tiền lãi trễ hạn là 500.861 đồng, lãi vượt hạn mức là 00 đồng, nợ tiền phí sử dụng thẻ tín dụng thực hiện các giao dịch là 727.000 và tiền lãi phát sinh giữa các kỳ thanh toán là 17.708.025 đồng, tổng cộng là 36.335.886 đồng. Ông Phạm Trọng N đã thanh toán tổng số tiền là 2.940.568 đồng, còn nợ lại Ngân hàng tổng số tiền là 33.395.318 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 19.669.132 đồng và nợ tiền lãi là 13.726.186 đồng).
- Đối với loại thẻ tín dụng VTD số thẻ 211251-3260 tính đến ngày 26/9/2025, ông Phạm Trọng N đã thực hiện các giao dịch của thẻ tín dụng với tổng số tiền là 82.000.000 đồng, nợ tiền lãi trễ hạn là 00 đồng, lãi vượt hạn mức là 00 đồng, nợ tiền phí sử dụng thẻ tín dụng thực hiện các giao dịch là 640.000 và tiền lãi phát sinh giữa các kỳ thanh toán là 30.769.000 đồng, tổng cộng là 113.409.000 đồng. Ông Phạm Trọng N đã thanh toán tổng số tiền là 57.221.673 đồng, còn nợ lại Ngân hàng tổng số tiền là 56.187.327 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 32.306.327 đồng và nợ tiền lãi là 23.881.000 đồng).
Nhận thấy, Ngân hàng thương mại cổ phần A đã chuyển khoản nợ của thẻ tín dụng đã cấp cho ông Phạm Trọng N sang nợ quá hạn, đồng thời chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên theo Hợp đồng và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức Tín Dụng năm 2010. Tính đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ kiện (ngày 26/9/2025), ông Phạm Trọng N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 89.582.645 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 51.975.459 đồng và tiền lãi quá hạn 37.607.186 đồng). Xét thấy, bị đơn ông Phạm Trọng N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của bên vay, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bên cho vay là Ngân hàng thương mại cổ phần A. Do vậy, yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày tiếp theo ngày Tòa án mở phiên phiên tòa xét xử vụ kiện (ngày 27/9/2025) cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên trong các hợp đồng tín dụng đã ký, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức Tín Dụng năm 2010, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Phạm Trọng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Căn cứ các Điều 91, 95, 96 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ các Điều 357, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Phạm Trọng N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 26/9/2025 là 89.582.645 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 51.975.459 đồng và tiền lãi quá hạn 37.607.186 đồng).
- Kể từ ngày 27/9/2025, ông Phạm Trọng N còn phải tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi quá hạn phát sinh tương ứng với số dư nợ chưa thanh toán của khoản vay, theo mức lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 28/3/2023 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng, kiêm giấy nhận nợ số LD0000223006 ngày 31/3/2023), cho đến khi ông Phạm Trọng N thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần A.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm 4.479.132 đồng, buộc ông Phạm Trọng N phải chịu và nộp theo quy định.
Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án phí 1.934.336 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án có ký hiệu: BLTU/25P và số 0000260 ngày 30/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu Vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND. TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND KV2-TP.HCM; - THADS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thiên |