vanban.org

Bản án 1160/2023/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/12/2023 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Dương Khắc M. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1160/2023/HNGĐ-PT
Ngày: 08-12-2023
V/v tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên

Các Thẩm phán:

1/ Ông Vũ Tùng Lâm.

2/ Ông Phan Trịnh Minh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2023/TLPT-HNGĐ

ngày 24/10/2023 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly

hôn”.

Do bản án sơ thẩm số 2941/2023/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023

của Tòa án nhân dân thành phố P, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5369/2023/QĐ-PT

ngày 14/11/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Lê Dương Khắc M, sinh năm 1985. (có mặt)

Địa chỉ: 3.23 Khối B, Chung cư Y, đường A, Khu phố E, phường Q,

thành phố P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê

Xuân H – Văn phòng Luật sư H Lê - thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí

Minh. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Xuân T, sinh năm 1987. (có mặt)

Trường trú: số 19 Đường A1, phường I, thành phố L, tỉnh R.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Mai Trung Đ

- Văn phòng Luật sư Phạm C - thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh Thìn B, sinh năm 1964. (có mặt)

Trường trú: số 19 Đường A1, phường I, thành phố L, tỉnh R.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn – Ông Lê Dương Khắc M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn ông Lê Dương Khắc M trình bày:

Theo bản án số 902/2018/HNGĐ-ST ngày 23/8/2018, Tòa án nhân dân

quận P (nay là Tòa án thành phố P) xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc Xuân T về việc ly hôn với ông Lê Dương Khắc M và giao con chung tên Lê Nguyễn Hạo M1, sinh ngày 10/6/2016 cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Trước đây, khi cháu M1 còn nhỏ ở với ông bà nội và ông bà ngoại tại

thành phố L, tỉnh R, hai nhà cách nhau khoảng 300m nên cũng tiện cho việc qua lại chăm cháu. Lý do vợ chồng đưa cháu M1 về gửi ông bà vì điều kiện công việc khó khăn, bản thân anh đang bận nghiên cứu sinh và lo công tác giảng dạy. Sau khi ly hôn cháu M1 chuyển qua nhà ông bà ngoại theo yêu cầu của bà T và ở từ năm 2018 đến nay.

Cháu M1 ở nhà ông bà ngoại trong điều kiện rất kém, cụ thể: Chăm sóc

sức khỏe không đảm bảo dẫn đến cháu suy dinh dưỡng và mắt cận nặng (cháu cân nặng và cận bao nhiêu thì ông không rõ); Cháu có biểu hiện bị tự kỷ nhẹ; Cháu không được tạo điều kiện tốt về giáo dục như không được học ngoại ngữ và các hoạt động thể dục thể thao; Về tinh thần thì cháu hoàn toàn bị cách ly với cha và gia đình bên nội đặc biệt sau khi có các đơn khởi kiện của ông. Trước đó, một tuần ông và gia đình bên nội được thăm cháu vào tối thứ tư và ngày thứ 7 hàng tuần, tuy nhiên có những lúc không được thăm mà không biết lý do chính đáng. Ông thừa nhận không trực tiếp thăm nom con mà nhờ cha ruột tới đón con về cho ông gặp, lần đầu ông trực tiếp tới thăm con nhưng bị cản trở theo Vi bằng lập ngày 26/02/2022. Ngoài ra cháu không được ở gần mẹ nên thiệt thòi về tình cảm, ông không liên lạc được với bà T về thông tin của con nên để cho hai ông bà nội và ngoại liên lạc và cung cấp thông tin của cháu cho ông. Ông có biết cháu học lớp 1 trường Lê Quý Đôn, còn kết quả học tập như thế nào thì ông không được rõ. Ngoài ra, cô T cũng có những khó khăn về hoàn cảnh gia đình do cũng mới có con với người khác.

Nếu như giao con cho ông sẽ có những thuận lợi như ông sẽ cho cháu đi

học trường gần nhà và đưa đón tốt hơn bà T do bản thân đang làm trong lĩnh vực giáo dục, ông đang là giảng viên cơ hữu trường Đại học V có trụ sở ở huyện

Bình Chánh và làm việc tại quận Tân Phú. Ngoài ra, ông còn nghiên cứu khoa

học và thỉnh giảng ở một số trường khác, ông có chuyên môn về văn và sư

phạm, mức thu nhập hàng tháng trên 20.000.000 đồng. Bản thân ông có nhà

riêng là Căn chung cư số 3.23 Khối B, Chung cư Y, đường A, Khu phố E,

phường Q, thành phố P, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện ông đang ở một mình và

cũng chưa lập gia đình. Nếu được giao nuôi con, ông cũng không yêu cầu bà T

cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Bị đơn bà Nguyễn Ngọc Xuân T trình bày:

Bà xác định vào năm 2018, xuất phát từ những mâu thuẫn vợ chồng và

mâu thuẫn của hai gia đình khi mẹ anh M không cho bà đưa con chung lên thành

phố ở cùng vợ chồng từ đó dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng không dung hòa được,

hai bên thường xuyên cãi vã, mỗi khi căng thẳng hoặc có rượu bia thì anh M hay

có những lời nói và hành động không đúng chuẩn mực như xúc phạm bà và gia

đình bà, thậm chí đánh và liệng đồ của bà ra khỏi nhà khiến nhiều lần bà bị tổn

thương nên hai bên phải ly hôn. Khi ly hôn thì anh M cũng dành quyền nuôi con

nhưng không được chấp nhận. Tòa án quyết định giao con chung cho bà là phù

hợp với quy định của pháp luật và hoàn cảnh và điều kiện nuôi con chung của

bà.

Thời gian đầu sau khi ly hôn, bà có chuyển cháu M1 từ nhà ông bà nội

sang ở cùng ông bà ngoại Nguyễn Thanh Thìn B, sinh năm 1964 và bà Nguyễn

Thị Xuân O, sinh năm 1966 tại địa chỉ số 19 Đường A1, phường I, thành phố L,

tỉnh R. Lý do, thời điểm này công việc của bà chưa ổn định trong khi ông bà

ngoại mới nghỉ hưu, có sức khỏe, có thời gian chăm và đưa đón cháu, đồng thời

nhà ông bà nội cháu là ông Lê Văn B và bà Dương Thị T1 ở địa chỉ 57 Đường

A2, Phường I1, thành phố L, tỉnh R (chỉ cách nhau khảng 400m). Bản thân bà

cũng thường xuyên về với cháu vì khoảng cách cũng gần, sau đó vì ảnh hưởng

của dịch bệnh nên bà cũng muốn cháu có sự ổn định và an toàn. Khi cho cháu về

quê, bà cho cháu học trường mầm non Quốc tế với những điều kiện tốt nhất tại

địa phương. Trong thời gian này, cháu có sức khỏe tốt về mọi mặt, cháu có bị

cận nhưng là bị bẩm sinh chứ không phải cận do sinh hoạt, anh M và gia đình

bên nội vẫn được tạo điều kiện được thăm nom con cháu.

Đến năm 2022, cháu được lên lớp 1 trường tiểu học Lê Quý Đôn tại

Phường I, thành phố R. Quá trình học tập, cháu được phát triển toàn diện, kết

quả học tập đều đạt tốt, sức khỏe thể chất và tinh thần cũng hoàn toàn tốt. Kết

thúc năm học cháu có được giấy khen và xếp loại xuất sắc. Hiện cháu đã được

đăng ký và có danh sách nhập học vào lớp 2 của trường. Đồng thời trong thời

gian này bà vẫn đang cho cháu được học thêm Toán tư duy và Tiếng anh tại

trung tâm ngoại ngữ để cháu có thêm kiến thức, cháu được học bơi để phát triển

thể chất, được đi du lịch cùng gia đình để cháu có thêm nhiều trải nghiệm. Theo

bà được biết, hiện nay cháu vẫn rất muốn ở cùng bà và ông bà ngoại.

Trong suốt thời gian này, anh M không có chủ động hỏi thông tin con

cũng như hỗ trợ thêm hay phụ giúp gì cho bà, mặc dù bà không có yêu cầu.

Ngược lại bản thân anh M vẫn còn nặng nề và cố chấp với những mâu thuẫn trước đây, vì vậy anh ấy vẫn còn những lúc cư xử với bà và cha mẹ bà không đúng chuẩn mực như xưng hô mày tao với cha mẹ bà trước mặt con chung, điều đó là không hay và ảnh hưởng đến nhận thức của con trẻ. Anh M còn gửi đơn vô công ty (nay là công ty cũ) trình bày chuyện cá nhân và gia đình làm ảnh hưởng đến uy tín và công việc của bà khiến bà phải thay đổi môi trường làm việc, ảnh hưởng đến sự ổn định như đã trình bày ở trên.

Đến tháng 4 năm 2023, bà có lập gia đình mới với anh Huỳnh Ngọc G.

Anh G làm phòng tài chính cùng công ty TNHH công nghệ sinh học X với bà. Hiện hai người đã có 01 con chung nên cả hai thống nhất từ đầu năm 2023 bà chuyển về tỉnh R sinh sống và làm việc từ đó có nhiều điều kiện chăm sóc gia đình và con cái. Hiện bà là đại diện kinh doanh khu vực Miền Tây địa bàn tỉnh R với mức thu nhập hàng tháng 39.000.000 đồng bao gồm lương, thưởng và phụ cấp là 34.500.000 đồng (có Hợp đồng, quyết định và bảng sao kê lương) cùng tiền cho thuê nhà riêng của bà (căn B08 F15 chung cư S, thành phố D, tỉnh U có Giấy tờ và Hợp đồng) với số tiền 4.500.000 đồng/tháng. Bản thân bà cũng có khoản tiền tiết kiệm dự phòng riêng khoảng 200.000.000 đồng. Bản thân Anh G cũng hiểu hoàn cảnh của bà, anh cũng thương yêu cháu M1 nên luôn giúp đỡ và động viên bà và quan tâm tới cháu. Vì vậy không có bất cứ vấn đề gì trong việc nuôi dạy các con.

Chính vì những điều tốt nhất cho con trẻ. Vì tình thương và trách nhiệm,

bà hoàn toàn chia sẻ và thông cảm với nguyện vọng của anh M trong việc muốn nuôi con chung. Tuy nhiên hiện tại bà không đồng ý với yêu cầu của anh M, bà đang và sẽ dành những điều tốt nhất cho không chỉ con chung mà cả con riêng. Bà sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi để anh M và gia đình bên nội được thăm nom cháu cũng như thông tin tình hình của cháu cho anh M.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 2941/2023/HNGĐ-ST ngày

10/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 235; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Dương Khắc M về việc

“Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” với bà Nguyễn Ngọc Xuân T.

Bà Nguyễn Ngọc Xuân T tiếp tục được trực tiếp trực tiếp chăm sóc và nuôi

dưỡng người con chung tên Lê Nguyễn Hạo M1, sinh ngày 10/6/2016.

Cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom

chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu

cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan,

tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi

con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các

đương sự.

Ngày 11/8/2023, nguyên đơn ông Lê Dương Khắc M kháng cáo yêu cầu

sửa bản án sơ thẩm số 2941/2023/HNGĐ-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân

dân thành phố P theo hướng chấp nhận yêu cầu của ông M về việc được trực

tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Hạo M1, sinh ngày

10/6/2016. Ông M không yêu cầu bà T cấp dưỡng tiền nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Lê Dương Khắc M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu

cầu kháng cáo.

Bị đơn bà Nguyễn Ngọc Xuân T đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông M trình bày:

Cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng về việc đưa người làm chứng và

về việc xác minh tại địa phương nơi cư trú nhưng xét thấy không quan trọng.

Nhận thấy cháu M1 từ khi được giao cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng có

sức khỏe tốt đó chỉ là các hình ảnh do bà T cung cấp nhưng trên thực tế không

đúng, sức khỏe cháu không tốt, cháu bị cận thị nặng. Kết luận của bệnh viện về

tình trạng sức khỏe của cháu M1 không đúng. Cháu M1 không được chăm sóc

tốt về thể chất.

Ông M về thăm con nhưng bị bà T và gia đình bà T cản trở nên có mời

Thừa phát lại đến lập vi bằng. Việc bà T đưa ra các chứng cứ đủ điều kiện nuôi

con chỉ để chứng minh cho lời nói chứ không xuất phát từ tấm lòng. Bà T đã có

gia đình mới nếu tiếp tục nuôi dưỡng cháu M1 sẽ tạo thêm gánh nặng cho bà T.

Ông M có nguyện vọng mong muốn được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M1

nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông M.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T trình bày:

Hiện bà T đã chuyển về R làm việc và sinh sống. Bà T có đủ điều kiện để

nuôi con. Ngoài ra, bà T còn được sự hỗ trợ, chăm sóc trực tiếp cháu M1 từ phía

gia đình ông bà ngoại.

Ông M không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của

mình. Hiện tại, sức khỏe cháu M1 vẫn bình thường, không có gì đáng lo ngại,

kết quả học tập tốt. Bà T và gia đình bà T luôn tạo mọi điều kiện để ông M và

gia đình nội tới lui thăm cháu. Mặc dù, bà T có gia đình riêng nhưng cháu M1 vẫn được nuôi dưỡng tốt (có xác minh của địa phương). Nguyện vọng của cháu M1 mong muốn được sống cùng mẹ.

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin thay đổi nuôi con

của nguyên đơn, tiếp tục giao cháu M1 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý

kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn luật định.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng nguyên tắc xét xử, đảm bảo

cho các bên đương sự được phát biểu ý kiến, trình bày quan điểm và tranh luận; các đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.

- Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lê Dương Khắc M còn trong thời

hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét.

- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy cháu

M1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ, bà T luôn tạo điều kiện cho ông M và gia đình ông M đến thăm cháu. Việc ông M cho rằng ông M bị cản trở thăm con, bà T nuôi con không tốt nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hình thức:

Đơn kháng cáo của ông Lê Dương Khắc M phù hợp với quy định tại các

Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo:

Ông Lê Dương Khắc M cho rằng từ khi bà T được trực tiếp chăm sóc,

nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Hạo M1, sinh ngày 10/6/2016 theo Quyết định bản án số 902/2018/HNGĐ-ST ngày 23/8/2018 của Tòa án nhân dân quận P (nay là Tòa án thành phố P) cho đến nay thì trẻ M1 không được chăm sóc tốt về sức khỏe, không được tạo điều kiện tốt về giáo dục, bản thân ông M và gia đình bị cản trở về việc thăm nom cháu nên ông M làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Do không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm số 2941/2023/HNGĐ-ST ngày 10/8/2023 củaTòa án nhân dân thành phố P nên ông M kháng cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với con chung tên Lê Nguyễn Hạo M1, sinh ngày 10/6/2016, ông Lê

Dương Khắc M và bà Nguyễn Ngọc Xuân T đều có tình yêu thương, muốn được

trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi đều phải

xét đến hoàn cảnh thực tế của các bên, vì lợi ích của trẻ nhằm đảm bảo quyền lợi

tốt nhất về mọi mặt cho trẻ.

Xét về điều kiện kinh tế, nơi ở, thời gian làm việc thì ông M và bà T đều

có đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống cho con. Tuy nhiên, trẻ M1 hiện nay còn

nhỏ, đang được bà T và gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian dài và

liên tục, cháu đang có cuộc sống ổn định bên cạnh mẹ, được nuôi dưỡng tốt và

nhận được tình yêu thương, chăm sóc, hổ trợ từ phía ông bà ngoại. Theo kết quả

xác minh tại địa phương và kết quả học tập tại trường tiểu học Lê Quý Đôn thể

hiện trẻ có thành tích học tập tốt, phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh

thần, kết quả sức khỏe trẻ không bị suy dinh dưỡng, thấp còi. Ông M cho rằng,

trẻ M1 không được chăm sóc tốt nên suy dinh dưỡng và có biểu hiện tự kỷ,

không được tạo điều kiện tốt về mặt giáo dục là không có căn cứ. Trong quá

trình tố tụng, ông M thừa nhận trước đây ông và gia đình vẫn được tới lui thăm

con, tuy nhiên vẫn có những lúc không được thăm, bản thân ông không chủ

động đến trực tiếp thăm con mà nhờ ông bà nội đón con về nhà cho ông gặp,

ông có biết trẻ M1 học lớp 1 trường Lê Quý Đôn nhưng không biết kết quả học

tập thế nào. Điều này chứng tỏ ông M cũng chưa thể hiện có trách nhiệm đối với

con chung. Mặt khác, qua tham khảo nguyện vọng của trẻ M1 cũng mong muốn

được tiếp tục chung sống với mẹ và ông bà ngoại.

Do đó, để đảm bảo ổn định về mặt tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống nhằm

tạo điều kiện để con chung phát triển toàn diện về mọi mặt, xét thấy cần giữ

nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo ông Lê Dương

Khắc M, tiếp tục giao trẻ Lê Nguyễn Hạo M1, sinh ngày 10/6/2016 cho bà

Nguyễn Ngọc Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng .

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét

xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông M, y án sơ thẩm là có cơ sở.

Về án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên đương sự

kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và

Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Dương Khắc M.

2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 2941/2023/HNGĐ-ST ngày 10/8/2023

của Tòa án nhân dân thành phố P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Dương Khắc M về việc

“Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” với bà Nguyễn Ngọc Xuân T.

Bà Nguyễn Ngọc Xuân T tiếp tục được trực tiếp trực tiếp chăm sóc và

nuôi dưỡng người con chung tên Lê Nguyễn Hạo M1, sinh ngày 10/6/2016. Bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo

dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan,

tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

3. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Dương Khắc M chịu án phí sơ thẩm là

300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai số AA/2021/0028464 ngày 22/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, Thành phố Hồ Chí Minh lập. Ông M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) ông Lê

Dương Khắc M chịu, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) mà ông M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0004680 ngày 11/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ