vanban.org

Bản án 116

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: C T M C phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự ¸p dông Điều 106 Bé luËt tè tông h×nh sù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "C T M C phạm tội “Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: C T M C phạm tội “Môi giới mại dâm”.
TAND QuËn Thanh xu©n
Thµnh phè Hµ Néi
====== o0o ======
B¶n ¸n sè: 116/2019/ HSST
Ngµy: 04/ 7/2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Sa Thị Phượng Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Xuân Hường

Ông Đỗ Quang Linh Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Thanh Tùng - Cán bộ Toà án nhân dân quận Thanh Xuân. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 85/2019/HSST ngµy 07 th¸ng 5 n¨m 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên:

C T M C

Sinh năm: 1986

HKTT và trú tại: Lê Lợi, tổ 19, phường Lê Hồng Phong, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: C H H; con bà: P T L; Chồng L Đ T (đã ly hôn); 01 con: L Q H (SN 2012). Tiền án, tiền sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Danh chỉ bản số 112 lập ngày 20/2/2019 tại CA Thanh Xuân. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Chị N H Y

Sinh năm: 1992

HKTT: Số 19 ngõ 503 Hồng Hà, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (vắng mặt)

Anh N H P

Sinh năm: 1991

HKTT: Đội 4 Thôn Tiền, Xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang, thành phố Hải Dương (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo C T M C bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 20h ngày 14/01/2019, N H P (SN: 1991, HKTT: Thôn Tiền, Xã Hiệp Lực, huyện Ninh Giang, thành phố Hải Dương) và H V L (SN: 1986, HKTT: xã Nghi Văn, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) ngồi uống nước cùng nhau. Trong lúc uống nước, P nảy sinh ý định sẽ tìm gái bán dâm để mua dâm. Sau đó, P sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook nhắn tin vào tài khoản mạng xã hội Facebook của C T M C để hỏi mua dâm. C đồng ý bán dâm với giá 3.000.000 đồng/1 lần. Thấy P nhắn tin với C như vậy, L cũng muốn đi mua dâm nên mượn điện thoại của P nhắn tin lại cho C nói tìm thêm người đi bán dâm vì L cũng muốn đi mua dâm. C nhắn tin lại là sẽ sắp xếp cho L tiến hành mua dâm. Sau đó C sử dụng mạng xã hội Zalo của C với tên “ Phạm Ly” nhắn tin vào mạng xã hội Zalo của N H Y (SN: 1992, HKTT: ngõ 503 Hồng Hà, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) với tên “ Jenny Yến” rủ Y đi bán dâm. Y đồng ý đi bán dâm.

Khoảng 10h00’ ngày 15/01/2019, P sử dụng số điện thoại 0974325080 nhắn tin vào số điện thoại 0384686030 của C hẹn bán dâm vào khoảng 12h cùng ngày tại khách sạn Nice số 230 A Khương Đình, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 12h ngày 15/01/2019, P và L đến khách sạn Nice tại địa chỉ số 230A Khương Đình, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội thuê phòng 403 và phòng 503 rồi Phức vào phòng 403 còn L vào phòng 503. P nhắn tin cho Chi biết số phòng để tiến hành mua, bán dâm. P yêu cầu C vào phòng 403 bán dâm cho P còn Y vào phòng 503 bán dâm cho L. Sau đó C nhắn tin cho Y biết địa chỉ để Y đến bán dâm cho L. Sau khi nhận được tin nhắn, C đi taxi đến khách sạn Nice và lên phòng 403. Tại đây C gặp P, P đưa cho C số tiền 6.500.000đồng trong đó 6.000.000đồng là tiền P trả tiền bán dâm còn 500.000đồng là tiền P cho C. Sau đó, C lấy 01 bao cao su bóc ra sử dụng quan hệ tình dục với P. Sau khi nhận được tin nhắn của C, Y đi xe taxi đến khách sạn Nice rồi lên phòng 503 gặp L; Y lấy 01 bao cao su rồi bóc ra sử dụng để quan hệ tình dục với L. Đến khoảng 12h30’ cùng ngày, Đội cảnh sát hình sự - Công an quận Thanh Xuân nhận được tin báo từ quản lý khách sạn Nice nên đã kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang C và P đang có hành vi mua bán dâm ở phòng 403, Y và L đang có hành vi mua bán dâm ở phòng 503. Đồng thời đưa C, Ph, Y, L cùng toàn bộ tang vật về trụ sở để giải quyết.

Cơ quan công an đã thu giữ của C T M C: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex đã bị xé; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo – F9 màu tím, có số Imei1: 866376045043814, số Imei2: 86637604504306 bên trong lắp sim số: 0384686030; Số tiền 6.500.000 đồng.

Cơ quan công an đã thu giữ của N H Y: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 359217074338499 có lắp sim số 0937436886; 01 bao cao su, vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex.

Cơ quan công an đã thu giữ của N H P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i màu ghi đen có số seri: 354850013413034, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0974325086.

Tại cơ quan điều tra, C T M C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Đối với hành vi mua dâm của N H P và H V L, Ngày 25/03/2019, Công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 điều 22 Nghị định 167/2013/ NĐ–CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Đối với hành vi bán dâm của C T M C và N H Y, ngày 25/03/2019, công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 điều 23 Nghị định 167/2013/ NĐ–CP ngày 12/11/2013 của chính phủ.

Đối với khách sạn Nice, nơi xảy ra hành vi mua bán dâm vào ngày 15/01/2019, quá trình điều tra xác định, quản lý nhà nghỉ sau khi phát hiện hành vi mua bán dâm của các đối tượng đã tích cực hợp tác trong quá trình điều tra phá án của Cơ quan điều tra - Công an quận Thanh Xuân nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo – F9 màu tím, có số Imei1: 866376045043814, số Imei2: 86637604504306 bên trong lắp sim số: 0384686030 là tài sản hợp pháp của C T M C sử dụng để liên lạc môi giới mại dâm.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 359217074338499 có lắp sim số 0937436886 là tài sản hợp pháp của N H Y.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1110i màu ghi đen có số seri: 354850013413034, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0974325086 là tài sản hợp pháp của N H P.

Tại bản Cáo trạng số: 73/CT-VKSTX ngày 04/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố C T M C về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo C T M C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt C T M C từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 16 đến 20 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.500.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo – F9 màu tím, có số Imei1: 866376045043814, số Imei2: 86637604504306. Trả lại cho chị N H Y 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 359217074338499. Trả lại cho anh N H P 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1110i màu ghi đen có số seri: 354850013413034. Tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex đã bị xé; 01 bao cao su, vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex.

Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo;

XÉT THẤY

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, qua xét hỏi và tranh luận bị cáo C T M C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện vào ngày 15/01/2019, C T M C đã có hành vi môi giới để N H Y bán dâm cho H V L tại phòng số 503 khách sạn Nice tại số 230 A Khương Đình, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Với hành vi của bị cáo đủ cơ sở kết luận bị cáo C T M C phạm tội “Môi giới mại dâm”. Tội danh và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đồng thời xâm phạm đến đạo đức, đời sống văn hóa, trật tự trị an xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức về pháp luật, cần phải biết rõ việc dẫn dắt người mua dâm hoặc người bán dâm để họ thực hiện việc mua dâm, bán dâm là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng cho bị cáo một hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải; Bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh bị cáo khó khăn, một mình nuôi con nhỏ, xét không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách, giao bị cáo về địa phương nơi cư trú của bị cáo quản lý giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex đã bị xé; 01 bao cao su, vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex là tang vật vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo – F9 màu tím, có số Imei1: 866376045043814, số Imei2: 86637604504306 bên trong lắp sim số: 0384686030; Số tiền 6.500.000 đồng là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 359217074338499 có lắp sim số 0937436886; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1110i màu ghi đen có số seri: 354850013413034, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0974325086 thu giữ của N H Y và N H P, xét thấy hành vi mua bán dâm của chị Y và anh P đã bị Công an quận Thanh Xuân ra quyết định xử phạt hành chính nên không là đối tượng xem xét của vụ án, do vậy cần quyết định trả lại cho chị Y và anh P.

Đối với hành vi mua dâm của N H P và H V L, Ngày 25/03/2019, Công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 điều 22 Nghị định 167/2013/ NĐ–CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với hành vi bán dâm của C T M C và N H Y, ngày 25/03/2019, công an quận Thanh Xuân đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 điều 23 Nghị định 167/2013/ NĐ–CP ngày 12/11/2013 của chính phủ nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với khách sạn Nice, nơi xảy ra hành vi mua bán dâm vào ngày 15/01/2019, qúa trình điều tra xác định, quản lý nhà nghỉ sau khi phát hiện hành vi mua bán dâm của các đối tượng đã tích cực hợp tác trong quá trình điều tra phá án của Cơ quan điều tra - Công an quận Thanh Xuân nên không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.

Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo: C T M C phạm tội “Môi giới mại dâm”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật hình sự

¸p dông Điều 106 Bé luËt tè tông h×nh sù.

¸p dông Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

3. Xö ph¹t bÞ c¸o C T M C 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo về UBND phường Lê Hồng Phong, Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Về xử lý vật chứng:

-Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.500.000đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Vật chứng hiện đang được thu giữ trong tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân số 3949.0.1049183, tại kho bạc Nhà nước (NH) Thanh Xuân – Hà Nội. Theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 24/5/2019.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo – F9 màu tím, có số Imei1: 866376045043814, số Imei2: 86637604504306 bên trong lắp sim số: 0384686030 (không lên nguồn- không kiểm tra Imei)

- Trả lại cho chị N H Y 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số Imei: 359217074338499 có lắp sim số 0937436886

- Trả lại cho anh N H P 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1110i màu ghi đen có số seri: 354850013413034 đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0974325086.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex đã bị xé; 01 bao cao su, vỏ bao cao su màu bạc nhãn hiệu Durex.

Toàn bộ vật chứng được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/5/2019.

Về án phí: Bị cáo C T M C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm cã mÆt bÞ c¸o, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. N¬i nhËn:

Thay mÆt héi ®ång xÐt xö

- TAND thµnh phè Hµ Néi;

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa

- VKSND quËn Thanh Xu©n;

- Chi côc THADS quËn Thanh Xu©n;

- BÞ c¸o;Người có QLNV liên quan

- Lưu VP.

Sa ThÞ PHƯỢNG

Cỡ chữ