vanban.org

Bản án 116/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ C: Buộc bị đơn bà Trần Hồng N có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Mỹ C số tiền nợ gốc 7.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản Lê Thị Mỹ C và Trần Hồng N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ C: Buộc bị đơn bà Trần Hồng N có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Mỹ C số tiền nợ gốc 7.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2026/DS-ST
Ngày: 27-7-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quách Thành Chúc

Bà Lê Thị Thúy Kiều

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2026/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2026 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 354/2026/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ C, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Trần Hồng N, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 23/3/2026 nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ C trình bày:

Vào ngày 10/10/2024 âm lịch, bà C có cho bà N vay số tiền 30.000.000 đồng, không lãi suất, mục đích vay để kinh doanh mua bán tôm, sú, thời gian vay vốn hứa khi nào bà C cần thì sẽ trả, việc mượn tiền có làm giấy tay do bà N viết vào sổ theo dõi của bà C. Sau khi vay, bà N trả được số tiền 23.000.000 đồng, còn lại 7.000.000 đồng đến nay vẫn chưa trả. Bà C yêu cầu bà N có nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà nhưng bà N cứ hẹn mà không trả nên bà C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Hồng N có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền 7.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Trần Hồng N vắng mặt không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ giao dịch dân sự. Bị đơn cư trú tại phường N, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ. Bị đơn bà Trần Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đồng thời không nộp văn bản ghi ý kiến phản hồi. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp: Xét lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ là giấy biên nhận tiền do bà N tự viết vào sổ theo dõi của bà C, có đủ cơ sở để xác định vào ngày 10/10/2024 (âm lịch), bà C và bà N có thiết lập hợp đồng vay tài sản với số tiền 30.000.000 đồng, không có lãi suất, mục đích vay để kinh doanh tôm sú và thỏa thuận thời hạn trả là khi nào bà C cần thì trả. Giao dịch này hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

Về số tiền nợ gốc còn lại: Quá trình thực hiện hợp đồng, bà N đã trả được số tiền 23.000.000 đồng và hiện còn lại số tiền 7.000.000 đồng chưa thanh toán.

Trách nhiệm trả nợ của bị đơn: Mặc dù bà C đã nhiều lần yêu cầu thanh toán, bà N cứ hứa hẹn nhưng không trả. Việc bà N không trả số tiền nợ gốc còn lại đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự: "Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn;".

Hơn nữa, quá trình tố tụng, mặc dù đã nhận được các văn bản thông báo của Tòa án, bà N không đưa ra ý kiến phản đối hay cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh đã thanh toán hết nợ cho bà C. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà C buộc bà N phải thanh toán số tiền nợ gốc còn thiếu là 7.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tính trên tổng số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 91, Điều 92, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ C: Buộc bị đơn bà Trần Hồng N có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị Mỹ C số tiền nợ gốc 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Trần Hồng N phải chịu 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ C tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010451 ngày 26/5/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ