- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo TRẦN ANH T, phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo TRẦN ANH T, phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 116/2025/HS-ST Ngày: 11-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Nữ Kiều Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Nga
Bà Lương Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Chu Đức Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 199/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 315/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 40/TB-TA ngày 28 tháng 11 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 139/TB-TA ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
TRẦN ANH T (tên gọi khác: C), sinh năm 1993 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. HKTT: thôn S, xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1966; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 23/10/2018, TRẦN ANH T bị Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2020, đã xóa án tích.
Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa (T30) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Cẩm T2, sinh năm 1991. HKTT: số 406/10 C, phường 13, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa (T30) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng tháng 4/2023, TRẦN ANH T và Nguyễn Thị Cẩm T2 sinh sống như vợ chồng tại Chung cư B2-52 khu La Villa Green City, phường 6, thành phố T, tỉnh Long An. Đến khoảng tháng 6/2023, TRẦN ANH T sang Cam Pu Chia tìm mua 01 khẩu súng ngắn, loại K54 và được một người bạn Quốc tịch Cam Pu Chia làm môi giới nên TRẦN ANH T mua được 01 khẩu súng ngắn, loại K54, bên trong có hộp tiếp đạn có 08 viên đạn là vũ khí quân dụng của một người Cam Pu Chia khác không rõ họ tên, lai lịch với giá 900USD. Việc giao nhận súng và đạn trên thực hiện tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh sau đó khoảng 03 ngày, do người lạ mặt khác giao cho TRẦN ANH T. Có được khẩu súng K54 và 08 viên đạn, TRẦN ANH T cất giấu vào giỏ xách màu đen, phía trước có in chữ BARAS tại nơi ở của mình, mỗi khi đi ra ngoài thì mang theo chiếc ba lô bên trong có khẩu súng và số đạn trên. Nguyễn Thị Cẩm T2 tuy sống chung với TRẦN ANH T, nhưng ngoài việc mua bán ma túy chung với nhau tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồ vật riêng của T thì T2 không được đụng vào nên không biết T mua súng từ Cam Pu Chia về cất giấu tại nơi ở chung với T2.
Ngày 12/8/2023, TRẦN ANH T mượn xe ôtô, hiệu KIA K3, biển số 51K-385.14 của bạn tên Lê Quốc H, sinh năm 1996, ở cùng Chung cư B2-52 khu L, phường 6, thành phố T, tỉnh Long An chở Nguyễn Thị Cẩm T2 đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận rồi tiếp tục đến đảo P du lịch. Xe ôtô trên chủ sở hữu là Tô Huyền T3, sinh năm 1983, nơi cư trú: 41/62 - N, phường 6, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh cho Lê Quốc H thuê từ ngày 27/7/2023. Trước khi đi, TRẦN ANH T đem theo ba lô màu đen, có in chữ BARAS bên trong có khẩu súng ngắn K54 và hộp tiếp đạn 08 viên bỏ vào cốp sau xe ôtô, T và T2 đi tàu cao tốc ra đảo P, gửi xe ôtô biển số 51K-385.14 tại bãi giữ xe Cảng vận tải P. Trong ngày 12/8/2023, Cơ quan CSĐT (PC04) - Công an thành phố Hồ Chí Minh và Công an Quận 8 đồng loạt bắt giữ TRẦN ANH T và Nguyễn Thị Cẩm T2 tại đảo P, tỉnh Bình Thuận và nhiều đối tượng có liên quan đến T và T2 tại Thành phố Hồ Chí Minh về các hành vi: tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Đến 10 giờ 00 phút ngày 13/8/2023, khi áp giải TRẦN ANH T và Nguyễn Thị Cẩm T2 từ đảo P về thành phố P để đưa về Thành phố Hồ Chí Minh xử lý, Cơ quan CSĐT(PC04) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Công an Quận 8, phối hợp với Cơ quan CSĐT(PC04) - Công an tỉnh Bình Thuận và Công an phường H, thành phố P tiến hành kiểm tra xe ôtô biển số 51K-385.14 tại bãi xe Cảng vận tải P, phát hiện trong cốp xe ôtô biển số 51K-385.14 có 01 giỏ xách màu đen, phía trước giỏ xách có dòng chữ BARAS bên trong có 01 khẩu súng ngắn, bên trong hộp tiếp đạn có 08 viên đạn.
Quá trình kiểm tra, thu giữ tài sản và đồ vật có liên quan, TRẦN ANH T khai nhận khẩu súng và số đạn trên là của mình cất giấu trái phép trước khi đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Hiện tại, TRẦN ANH T, Nguyễn Thị Cẩm T2 và nhiều đối tượng có liên quan đang bị Cơ quan CSDT (PC04) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, điều tra về các tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy".
Cơ quan CSĐT(PC04) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, tách nguồn tin có dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và vật chứng có liên quan cho Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh Bình Thuận xử lý theo thẩm quyền.
Biên bản vụ việc lập lúc 10 giờ 15 phút ngày 13/8/2023, do Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh kết hợp với Công an phường H, thành phố P:
Nội dung: Lúc 10 giờ 00 phút, ngày 13/8/2023, Công an Quận 8, Phòng PC 04 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết hợp với Công an phường H, thành phố P kiểm tra tại Bãi xe Cảng vận tải P, tỉnh Bình Thuận 01 chiếc xe ôtô, hiệu KIA K3 màu trắng, biển số 51K-385.14 do TRẦN ANH T nơi đăng ký NKTT thôn S, xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (chỗ ở B2-52 khu L, phường 6, thành phố T, tỉnh Long An) đang sử dụng. Qua kiểm tra, phát hiện tại cốp phía sau xe ôtô có 01 giỏ xách màu đen, phía trước giỏ xách có dòng chữ BARAS, kiểm tra bên trong giỏ xách phát hiện 01 vật bằng kim loại hình dạng giống khẩu súng, bên trong vật hình dạng giống khẩu súng có 01 hộp tiếp đạn, bên trong có 08 viên kim loại giống đạn. TRẦN ANH T khai nhận vật trên là khẩu súng do T mua để sử dụng.
Kết luận giám định số: 9031/KL-KTHS ngày 23/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
1. Khẩu súng ngắn và 08 viên đạn gửi giám định là vũ khí quân dụng.
2. Khẩu súng ngắn gửi giám định là súng ngắn K54, sử dụng loại đạn 7,26mm x 25mm, súng ngắn K54 có chế độ bắn từng viên, lắp đạn vào hộp tiếp đạn hoặc lắp trực tiếp từng viên vào buồng chứa đạn khi không có hộp tiếp đạn, súng còn bắn được đạn nổ.
3. 08 viên đạn gửi giảm định là đạn quân dụng cỡ 7,62mm x 25mm, chưa qua sử dụng, trọng lượng từng viên khoảng 9,825g, được sử dụng cho một số loại súng: khẩu súng ngắn gửi đến giám định, TT-33, K68, CZ52, OTs-27, PPD-40, CZ25...và một số súng tự chế có buồng chứa đạn, nòng súng phù hợp với loại đạn này.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
01 khẩu súng ngắn K54, bên trong có 01 hộp tiếp đạn chứa 08 viên đạn. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã ra Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKS-P2 ngày 09/9/2024, chuyển từ Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Thuận đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Bình Thuận để đảm bảo việc xét xử và thi hành án. Tuy nhiên, ngày 16/9/2024 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P có Công văn số 1064/CCTHADS-NV đề nghị Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bình Thuận tiếp tục bảo quản vật chứng cho đến khi có bản án, quyết định của Tòa án do cơ quan chuyên trách là Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Thuận chưa có kho riêng để tiếp nhận, bảo quản vật chứng trong vụ án. Do đó, hiện vật chứng trên đang được bảo quản tại Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Bình Thuận.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSBT-P2 ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định, truy tố bị cáo TRẦN ANH T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận ban hành quyết định số 05/QĐ-VKS-P2 phân công Viện kiểm sát nhân dân thành phố P thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phát biểu quan điểm xử lý về vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố TRẦN ANH T, phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt TRẦN ANH T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù.
Về xử lý vật chứng thuộc trường hợp cấm tàng trữ, lưu hành đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn K54, bên trong có 01 hộp tiếp đạn chứa 08 viên đạn.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt và biên bản ghi lời khai bị cáo TRẦN ANH T do Tòa án nhân dân thành phố P thu thập, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố là đúng, không oan, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí Hòa nên bị cáo xin Tòa án nhân dân thành phố P xét xử vắng mặt và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Thuận, Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử, đơn xin xét xử vắng mặt bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, biên bản ghi lời khai bị cáo TRẦN ANH T do Tòa án nhân dân thành phố P lập ngày 27/3/2025 tại Trại tạm giam Chí Hòa, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa nên đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng tháng 6/2023, TRẦN ANH T đến Cam Pu Chia tìm mua 01 khẩu súng ngắn, loại K54, bên trong có hộp tiếp đạn chứa 08 viên đạn là vũ khí quân dụng của một người Cam Pu Chia với giá 900 USD. Súng và đạn trên, TRẦN ANH T cất giấu tại nơi ở của mình thuộc Chung cư B2-52 khu L, phường 6, thành phố T, tỉnh Long An. Đến 10 giờ 00 phút ngày 13/8/2023 Cơ quan CSĐT (PC04) - Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Công an Quận 8 phối hợp với Cơ quan CSĐT (PC04) - Công an tỉnh Bình Thuận và Công an phường H, thành phố P phát hiện TRẦN ANH T cất giấu khẩu súng và số đạn trên trong giỏ xách màu đen, phía trước giỏ xách có dòng chữ BARAS trong cốp xe ôtô biển số 51K-385.14 tại bãi giữ xe Cảng vận tải P.
Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là trái pháp luật nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã mua và cất giấu trái phép 01 khẩu súng, loại K54 có hộp tiếp đạn bên trong có 08 viên đạn là vũ khí quân dụng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo TRẦN ANH T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3 Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng và chế độ quản lý vũ khí của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4 Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5 Về xử lý vật chứng: Đối với 01 khẩu súng ngắn K54, bên trong có 01 hộp tiếp đạn chứa 08 viên đạn là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
[6 Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo TRẦN ANH T, phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt: bị cáo TRẦN ANH T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày chấp hành án.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 khẩu súng ngắn K54, bên trong có 01 hộp tiếp đạn chứa 08 viên đạn.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKS-P2 ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận và Công văn số 1064/CCTHADS-NV ngày 16/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo TRẦN ANH T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND TP Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND tỉnh Bình Thuận; - Bị cáo; - UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Chi cục Thi hành án dân sự TP Phan Thiết; - Lưu: hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Nữ Kiều Mỹ |